Monday, August 31, 2015

TÂM KINH BÁT NHÃ

TÂM KINH BÁT NHÃ

Quán tự tại bồ tát hành thâm Bát nhã ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố, bồ đề tát đỏa y Bát nhã ba la mật đa cố tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố vô hữu khủng bố; viễn ly điên đảo mộng tưởng; cứu cánh niết bàn, tam thế chư Phật y Bát nhã ba la mật đa cố đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
Cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha.

TÂM KINH BÁT NHÃ
DỊCH NGHĨA

Bồ tát Quán tự tại khi hành Bát nhã ba la mật đa sâu xa soi thấy năm uẩn đều không, vượt qua mọi khổ ách.
Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy.
Xá Lợi Tử! Tướng không các pháp đây, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Cho nên, trong không, không sắc, không thọ, tưởng, hành, thức; không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không nhãn giới cho đến không ý thức giới; không vô minh cũng không vô minh hết; cho đến không già chết, cũng không già chết hết; không khổ, tập, diệt, đạo; không trí cũng không đắc.
Bởi không sở đắc, Bồ tát nương Bát nhã ba la mật đa, nên tâm không mắc ngại; vì không mắc ngại nên không sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo, rốt ráo niết bàn. Chư Phật ba đời nương Bát nhã ba la mật đa nên chứng a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Nên biết Bát nhã ba la mật đa là chú thần lớn, là chú minh lớn, là chú vô thượng, là chú không gì sánh bằng, trừ hết mọi khổ ách, chắc thật vì không dối.
Nên nói chú Bát nhã ba la mật đa, nên nói chú rằng: Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề, Tát bà ha.

TÂM KINH BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA
CHÚ GIẢI

Monday, July 20, 2015

TAM THỪA CHƠN GIÁO

LỜI TỰA
Thành kính giới thiệu Bộ Kinh
TAM THỪA CHƠN GIÁO
Cảnh trần hoàn là “nơi sống gởi, thác về”, là “chốn trả vay, vay trả”! Vay những chi mà trả những chi? Vay là vay những nghiệp chướng, những tiền khiên oan trái trong không biết bao nhiêu kiếp trước. Trả là kiếp này luân hồi trở lại thế gian để thanh toán nợ ấy. Nhưng, khổ nỗi là: nợ xưa chưa trả hết mà vì thiếu sự giác ngộ, lại phải vay thêm! Lời vốn cứ thế mà tăng, theo đà lũy tiến! Vì lẽ đó mà hồn người cứ quanh đi quẫn lại, tử tử sanh sanh, kiếp này chuyển sang kiếp khác, không lúc nào thoát được! Về điểm này Đức LÝ ĐẠI TIÊN có dạy như sau:
Luân hồi nhiều kiếp khó leo lên,
Lầm lỗi nhiều lần mất tuổi tên;
Lẩn quẩn thế gian dường kén nhộng,
Biết thời tu niệm mới an bền.
Trong bài thơ này LÝ ĐẠI TIÊN đã chỉ cho người trần lối thoát khỏi vòng luân hồi. Lối ấy là con đường tu niệm vậy.
Thật thế, cảnh diêm phù này là cảnh vô thường. Nhứt nhứt việc chi, từ vật chất đến tinh thần như: lợi lộc, quyền thế, giàu sang, phú quí, gia viên điền sản, vàng bạc, châu báu, v.v. đều là mộng huyễn, bào ảnh cả! Cho đến tình cha mẹ, vợ con, anh em, chồng vợ, mà còn không bền thay, thì thử hỏi người trần có nên lấy cái "hư" mà làm cái "thực" chăng?
Vậy sống ở đời, ta phải bỏ giả theo chân, bỏ hư theo thực, mới là đúng lý đương nhiên. Cái chân, cái thực, cái mục đích tối thượng của sự luân hồi chuyển kiếp, hay nói riêng cho một đời người là sự tiến hóa không ngừng để đến mức cuối cùng chìm vào biển sâu là cảnh Niết Bàn vậy. Muốn được tiến hóa không ngừng thì ngay tại kiếp này, theo lời của LÝ ĐẠI TIÊN đã dạy, con người phải "tu".
Sự tu niệm không phải là việc "nhảy vọt", việc "nhảy lớp" như lối thường tình mà, trái lại, phải tùy theo duyên nghiệp, tùy khả năng của đương kiếp mà tuần tự nhi tiến, trước thấp sau cao, bước bước nào chắc bước nấy. Vì thế mà ĐẤNG CHÍ TÔN đã có lần để lời khuyên như sau:
"Chậm chậm mà đi, hỡi các con!
Bến gai nặng lội cũng hay mòn!"
Và hiện nay, để giúp chư Thiện tín lần bước chông gai trên con đường tu hành mà khỏi vấp ngã, ĐỨC DIÊU TRÌ KIM MẪU, nhơn dịp mở khóa Hạnh đường vừa rồi, trong sáu ngày liền, đã hội chư PHẬT, TIÊN, THÁNH, THẦN, lâm đàn tả bộ kinh "TAM THỪA CHƠN GIÁO" vạch rõ con đường tu tiến thích ứng cho mỗi cấp bậc. Bộ kinh này gồm ba quyển như sau:
Quyển I: (thuộc về Tiểu Thừa): Dạy phép giữ Đạo căn bản mà mỗi Thiện tín cần phải có để xứng đáng là tông đồ trong nền chánh giáo.
Quyển II: (thuộc về Trung Thừa) : Dạy phép chánh kỷ hóa nhân, các thiện tín sẽ trở thành những chức sắc, chức việc, xả thân hành Đạo, sẽ đủ phương tiện đóng góp tinh thần thuần chơn vào công việc xây dựng truyền thống đạo đức cho hiện tại và tương lai.
Quyển III: (thuộc về Thượng Thừa) : Dạy cơ siêu thoát bí truyền, để vị nào công quả đầy đủ sẽ noi theo đó mà luyện thành phẩm vị thiêng liêng nơi cảnh thượng.
Lần đầu tiên Quyển I được ban hành rồi sau này lần lượt sẽ đến hai quyển sau.
Quyển I : Gồm có 10 mục hay là 10 bài học như sau:
Bài thứ nhứt: Luận về thuyết Tam Giáo đồng nguyên, về sự suy đồi, về tinh thần đạo đức của nhơn sanh và về sự cần thiết phải tu.
Bài thứ hai: Luận về ngũ giới cấm.
Bài thứ ba: Luận về cơ tiến hóa trong đường tu hành (đại cương).
Bài thứ tư: Luận về đề tài: Trai minh tường giải (Sự trì trai).
Bài thứ năm: Luận về “cách lập chí”.
Bài thứ sáu: Luận về hai chữ “Trinh liệt”.
Bài thứ bảy: Luận về “Đạo Tam tùng”.
Bài thứ tám: Luận về “Tứ đức”.
Bài thứ chín: Luận về “Bát bửu”: Hiếu, Đễ, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ.
Bài thứ mười: Luận về khắc kỷ, tu thân.
Tại sao ĐỨC DIÊU TRÌ KIM MẪU và chư PHẬT, THÁNH, TIÊN, THẦN đều đồng ý cho ban hành Quyển I dạy về Bậc TIỂU THỪA trước tiên? Nếu xét cho kỹ thì ta sẽ thấy lý sâu xa chính đáng của việc ấy.
Bậc TIỂU THỪA là cấp bậc dành cho chư thiện tín trong một tôn giáo, nhưng kỳ thật nó là nền tảng vì nó bao gồm đa số nhơn sanh. Giáo huấn của Bậc TIỂU THỪA phần lớn chú trọng về Nhân đạo, nghĩa là: Đạo làm người từ trong gia đình đến xã hội. Nhơn đạo có tròn thì mới bước qua Tiên Đạo, Phật Đạo được. Bởi thế mới có đoạn Thánh giáo dạy như sau:
"Thế tưởng vậy là tu Nhân đạo,
Nào hay rằng Thiên đạo bởi đây!
Không tu Nhân đạo cho dày,
Mong thành Thiên đạo mặc may làm gì?"
Lại nữa, luận về Nhân đạo, ĐẤNG CHÍ TÔN có dạy như sau:
“Các con coi trên Thiên Đình có vị Tiên, Phật nào mà thất trung, thất hiếu bao giờ?”
Ngay khi mở Đạo nhiều vị vừa mới nhập môn cầu đạo đã toan ly gia cắt ái theo Thiên Đạo (luyện Đạo). Thấy vậy các Đấng Thiêng Liêng nhiều lần giáng cơ khuyên rằng: "Dục tu Thiên Đạo, tiên tu Nhơn Đạo, Nhơn Đạo bất thành, Thiên Đạo viễn hỷ!".
Nay trong sanh chúng mối nhân luân đã suy đồi quá nhiều, Bát Bửu nói trên không còn giữ được lấy một điều thì đem Thiên Đạo ra mà nói chẳng khác nào xây lâu đài trên nền móng bằng tre, bằng cát vậy! Giúp mọi người, nhứt là trong giới tu hành, làm tròn bổn phận làm con, làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ v.v... là một việc khá nặng nề rồi. Ấy là Đạo Trời góp phần vào công việc xây dựng xã hội đó.
Vậy thiết tưởng chức sắc, chức việc thuộc các Hội Thánh nên đặc biệt chú trọng về Quyển I của Bộ Kinh TAM THỪA CHƠN GIÁO này và phổ biến trong đại chúng, bất luận Đạo hay Đời.
Giữa thời Hạ nguơn mạt kiếp, nhơn sanh đang đắm đuối trong biển lợi danh, dở sống, dở chết trong cảnh đạn tên nước lửa, quyển I của Bộ Kinh TAM THỪA CHƠN GIÁO này hẵn thật là một hoàn linh đơn vừa phá mê vừa bổ sức để lành mạnh hóa tâm hồn của mỗi cá nhân, hầu sáng suốt mà nhận định con đường cứu rỗi của chính mình trước cảnh tang thương!
Cầu xin ĐỨC DIÊU TRÌ KIM MẪU và Chư PHẬT, TIÊN, THÁNH, THẦN, ban ân lành cho những vị hân hạnh được đọc quyển kinh này.
Saigon, ngày 3 tháng 5 năm Đại Đạo thứ 36 (15-6-1961)
Rất lòng thành kính
HUỆ LƯƠNG kính bút
(Thừa vâng sắc lịnh Đức LÝ GIÁO TÔNG giáng tại Huờn Cung Đàn, Hợi thời 29-4 Tân Sửu (12-6-1961).
 

DI LẶC CHƠN KINH


TỊNH KHẨU CHÚ
Lời ăn nói là nơi lỗ miệng,
Tiếng luận đàm liệu biện đề phòng.
Giữ gìn miệng đặng sạch trong,
Thốt lời minh-chánh, rèn lòng tụng Kinh.

TỊNH TÂM CHÚ
Lòng người đặng tánh linh hơn vật,
Biết kỉnh thành dè-dặt khôn lanh.
Khá tua lánh dữ làm lành,
Những điều nghiệt ác hóa thành khói dơ.

TỊNH THÂN CHÚ
Ở trần thế bụi nhơ thân vấy,
Khí trược dơ lừng-lẫy bay hơi.
Thể thân giữ sạch chẳng rời,
Chường mình trước Thánh, đến nơi lạy quỳ.

AN THỔ ĐỊA CHÚ
Công Thổ-Địa nguy nguy tài đức,
Hiển oai linh ra sức độ đời.
Giúp người tâm chí chẳng dời,
Lòng thành kỉnh lạy Phật Trời tụng Kinh.
Tây Phương Phật Tổ

DI LẶC CHƠN KINH

KHAI KINH KỆ
Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ.
Ngã kim thính văn đắc thọ trì,
Nguyện giải Tân Kinh chơn thiệt nghĩa.

THÍCH CA MÂU NI VĂN PHẬT thuyết
DI LẶC CHƠN KINH


THƯỢNG THIÊN HỖN-NGƯƠN hữu: Brahma Phật, Civa Phật, Christna Phật, Thanh-Tịnh Trí Phật, Diệu-Minh-Lý Phật, Phục Tưởng Thị Phật, Diệt Thể Thắng Phật, Phục-Linh-Tánh Phật, nhứt thiết chư Phật, hữu giác, hữu cảm, hữu sanh, hữu tử, tri khổ nghiệp chướng, luân chuyển hóa sanh, năng du ta bà thế giới độ tận vạn linh đắc qui Phật vị.
HỘI NGƯƠN-THIÊN hữu: Trụ-Thiện Phật, Đa Ái Sanh Phật, Giải Thoát Khổ Phật, Diệu-Chơn Hành Phật, Thắng-Giái Ác Phật, nhứt thiết chư Phật tùng lịnh DI LẶC VƯƠNG PHẬT, năng chiếu diệu quang tiêu trừ nghiệt chướng.
Nhược hữu chúng sanh văn ngã ưng đương thoát nghiệt, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, tùng thị Pháp điều Tam-kỳ Phổ-độ, tất đắc giải thoát luân hồi, đắc lộ Đa-La Tam-Diệu Tam-Bồ-Đề, thị chi chứng quả Cực-Lạc Niết-Bàn.
Nhược nhơn đương sanh, nhược nhơn vị sanh, nhược nhơn hữu kiếp, nhược nhơn vô kiếp, nhược nhơn hữu tội, nhược nhơn vô tội, nhược nhơn hữu niệm, nhược nhơn vô niệm, thính đắc ngã ngôn, phát tâm thiện niệm, tất đắc A-Nậu Đa La Tam-Diệu Tam-Bồ-Đề, tất đắc giải thoát.
Nhược hữu nhơn thọ trì khủng kinh ma chướng, nhứt tâm thiện niệm: Nam Mô DI-LẶC VƯƠNG BỒ-TÁT, năng cứu khổ ách, năng cứu tam tai, năng cứu tật bịnh, năng độ dẫn chúng sanh thoát chư nghiệt chướng tất đắc giải thoát.
HƯ-VÔ CAO-THIÊN hữu: Tiếp-Dẫn Phật, Phổ-Tế Phật, Tây-Qui Phật, Tuyển Kinh Phật, Tế-Pháp Phật, Chiếu-Duyên Phật, Phong-Vị Phật, Hội-Chơn Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật tùng lịnh NHIÊN-ĐĂNG CỔ PHẬT, dẫn độ chơn linh đắc Pháp, đắc Phật, đắc duyên, đắc vị, đắc A-Nậu Đa-La Tam-Diệu Tam-Bồ-Đề chứng quả nhập Cực-Lạc Quốc, hiệp chúng đẳng chư Phật tạo định Thiên-Thi tận độ chúng sanh đắc qui Phật vị.
Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, tu trì thính ngã dục đắc chơn truyền niệm thử NHIÊN-ĐĂNG CỔ PHẬT, thường du ta bà thế giới, giáo hóa chơn truyền, phổ tế chúng sanh giải thoát lục dục thất tình, thoát đọa luân hồi tất đắc giải thoát.
TẠO-HÓA HUYỀN-THIÊN hữu: Quảng-Sanh Phật, Dưỡng-Dục Phật, Chưởng Hậu Phật, Thủ-Luân Phật, dữ Cửu-Vị Nữ-Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, tùng lịnh KIM-BÀN PHẬT MẪU năng tạo năng hóa vạn linh, năng du ta bà thế giới dưỡng dục quần sanh qui nguyên Phật vị.
Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, thính ngã dục tu phát nguyện Nam Mô KIM-BÀN PHẬT MẪU dưỡng dục quần linh, nhược hữu sanh, nhược vị sanh, nhược hữu kiếp, nhược vô kiếp, nhược hữu tội, nhược vô tội, nhược hữu niệm, nhược vô niệm, hườn hư thi hình đắc A-Nậu Đa-La Tam-Diệu Tam Bồ-Đề, Xá-Lợi Tử qui nguyên Phật vị tất đắc giải thoát.
PHI-TƯỞNG DIỆU-THIÊN hữu: Đa-Pháp Phật, Tịnh-Thiện-Giáo Phật, Kiến Thăng Vị Phật, Hiển-Hóa-Sanh Phật, Trục Tà Tinh Phật, Luyện Đắc Pháp Phật, Hộ Trì Niệm Phật, Khai Huyền Cơ Phật, Hoán Trược Tánh Phật, Đa Phúc Đức Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, tùng lịnh TỪ-HÀNG BỒ-TÁT, năng du ta bà thế giới thi pháp hộ trì vạn linh sanh chúng.
Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, tín ngã ưng đương phát nguyện Nam Mô TỪ-HÀNG BỒ-TÁT, năng cứu tật bịnh, năng cứu tam tai, năng độ tận chúng sanh thoát ư tứ khổ, năng trừ tà ma, năng trừ nghiệt chướng, tất đắc giải thoát.
HẠO-NHIÊN PHÁP-THIÊN hữu: Diệt Tướnng Phật, Đệ Pháp Phật, Diệt Oan Phật, Sát Quái Phật, Định Quả Phật, Thành Tâm Phật, Diệt Khổ Phật, Kiên Trì Phật, Cứu Khổ Phật, Xá Tội Phật, Giải Thể Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, tùng lịnh CHUẨN-ĐỀ BỒ-TÁT, PHỔ-HIỀN BỒ-TÁT thường du ta bà thế giới độ tận vạn linh.
Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, tín ngã ưng đương phát nguyện Nam Mô CHUẨN-ĐỀ BỒ-TÁT, PHỔ-HIỀN BỒ-TÁT, năng trừ ma chướng quỉ tai, năng cứu khổ ách nghiệt chướng, năng độ chúng sanh qui ư Cực-Lạc, tất đắc giải thoát.
Nam-Mô Di-Lặc Vương Phật
Nam-Mô Brahma Phật
Nam-Mô Civa Phật
Nam-Mô Christna Phật
Nam-Mô Thanh-Tịnh Trí Phật
Nam-Mô Diệu-Minh-Lý Phật
Nam-Mô Phục-Tưởng Thị Phật
Nam-Mô Diệt Thể Thắng Phật
Nam-Mô Phục-Linh Tánh Phật
Nam-Mô Trụ-Thiện Phật
Nam-Mô Đa-Ái Sanh Phật
Nam-Mô Giải-Thoát Khổ Phật
Nam-Mô Diệu-Chơn Hành Phật
Nam-Mô Thắng-Giái-Ác Phật
Nam-Mô Nhiên-Đăng Cổ Phật
Nam-Mô Tiếp-Dẫn Phật
Nam-Mô Phổ-Tế Phật
Nam-Mô Tây-Qui Phật
Nam-Mô Tuyển-Kinh Phật
Nam-Mô Tế-Pháp Phật
Nam-Mô Chiếu-Duyên Phật
Nam-Mô Phong-Vị Phật
Nam-Mô Hội-Chơn Phật
Nam-Mô Kim-Bàn Phật Mẫu
Nam-Mô Quảng-Sanh Phật
Nam-Mô Dưỡng-Dục Phật
Nam-Mô Chưởng-Hậu Phật
Nam-Mô Thủ-Luân Phật
Nam-Mô Cửu Vị Nữ Phật
Nam-Mô Từ-Hàng Bồ Tát
Nam-Mô Đa-Pháp Phật
Nam-Mô Tịnh-Thiện-Giáo Phật
Nam-Mô Kiến-Thăng-Vị Phật
Nam-Mô Hiển-Hóa-Sanh Phật
Nam-Mô Trục Tà Tinh Phật
Nam-Mô Luyện Đắc Pháp Phật
Nam-Mô Hộ Trì Niệm Phật
Nam-Mô Khai-Huyền-Cơ Phật
Nam-Mô Hoán-Trược-Tánh Phật
Nam-Mô Đa-Phúc-Đức Phật
Nam-Mô Chuẩn-Đề Bồ Tát
Nam-Mô Phổ-Hiền Bồ Tát
Nam-Mô Diệt-Tướng Phật
Nam-Mô Đệ-Pháp Phật
Nam-Mô Diệt-Oan Phật
Nam-Mô Sát-Quái Phật
Nam-Mô Định-Quả Phật
Nam-Mô Thành Tâm Phật
Nam-Mô Diệt Khổ Phật
Nam-Mô Kiên-Trì Phật
Nam-Mô Cứu-Khổ Phật
Nam-Mô Xá-Tội Phật
Nam-Mô Giải-Thể Phật.
Nam Mô Cao-Đài Tiên-Ông Đại Bồ Tát Ma ha tát.
(3 lần, 12 lạy)

TÁI TẠO và TÁI DIỆT


ĐỆ THỨ BA: TÁI TẠO và TÁI DIỆT
      (- Kính bạch Phật! Đại họa diệt vong từ cuối đời Thượng Cổ nghe phải kinh hồn và xót thương vô cùng cực! Hữu phước lắm thay buổi đời Hạ Nguơn nầy được diễm phúc, cửa Đạo khai minh, may duyên gặp Phật, được nghe qua Đạo tích tiền sử chưa bao giờ được nghe, giờ nay con kính lạy tạ ơn Phật đã nhọc vì con giảng độ rất nhiều. Kính bạch Phật, kể từ khai Thiên dựng Địa khai sanh loài người đến khi bị hủy diệt tất cả là bao nhiêu năm?)
      - Tất cả cộng chắc là tám muôn bốn ngàn năm.
       (- Kính bạch Phật! Thời gian lập đời hết bao lâu mới thành lại được?)
      - Nguơn Trung tái tạo cực kỳ mau chóng, chỉ trong vòng 2000 năm sau thì nhiều nơi đã được lập quốc. Cơ tấn hóa cũng vẫn đi nhanh theo thời gian, sự tái tạo nhanh chóng hơn nguơn đầu vô lượng kiếp.
       (- Kính bạch Phật, sang qua thời Trung Cổ sự tấn hóa mau như vậy, nhưng đến khi sau đời ác có làm cho Đạo Pháp bị bế tắc hay không mà lại cũng lâm trận Hồng-Thủy hủy diệt vào đời ông Thánh Nô-Ê, Đạo sử ngày nay vẫn có?)
      - Bạch Diệu Hoa! Ta không thể giảng hết những điều tội ác của chúng sanh! Trước Ta giảng cảnh hủy diệt đời Thượng Cổ cũng chỉ sơ lược đó thôi! Đời Trung Cổ về sau sự tấn hóa càng văn minh hơn, tội ác lại thậm đa hơn, nhưng hữu phước thay đời Trung Cổ Đạo Pháp vẫn được duy trì ở trong đại thế chúng thuộc bán cầu phương Đông và Đông Nam, nhiều cõi nước thủy hồng không hại tới, Đạo Pháp vẫn được phồn thịnh, dân sanh còn hiền lành, lại số dân thiểu số chưa được mở mang hãy còn tồn tại. Phương Tây vì vật chất mất hẳn tinh thần. Đạo sử tích Thánh Nô-Ê đã mấy ngàn năm lưu truyền. Các cõi nước cực tiến, cực ác dữ, cực văn minh không tin có Trời, Phật, chỉ sống với tài sức và vật chất. Đấng Chí-Tôn truyền dạy chẳng tin nghe, hủy bỏ đức tin, nhạo chê Trời Phật!
      Khi đó Ơn Trên chọn lại một người còn đủ đức tin cho sống để làm thành Đạo Sử, hầu tương lai sẽ lấy đó mà dành dụm đức tin cho các thế hệ sau nầy!
       (- Kính bạch Phật, vào thời nhiệm thứ hai, lời Phật giảng rằng ở trên thế gian hãy còn duy trì Đạo Pháp dầu ở phương Đông, nhưng sao Đấng Chí-Tôn và Chư Phật không rộng ơn bày phương chước cứu độ phương Tây, lại để gây tình trạng kinh hoàng đến với chúng sanh một lần nữa cũng rất nặng nề tiêu diệt gần hết chúng sanh?)
      - Bạch Diệu Hoa! Thiện Nữ Nhân tâm tánh thiệt lành, hãy nghe Ta giảng tiếp, ngươi và tất đại thế chúng sẽ rõ. TẠO HÓA có thuở nào không đức háo sanh, nỡ lòng háo sát? Tánh Phật có thuở nào không quảng đại từ bi rộng ơn tế độ? Sở vì chúng-sanh không mộ đức Phật, ân Trời, nơi tâm tánh chúng chẳng mộ Đạo vô thượng sâu mầu, đức tin chẳng có, nơi tánh không ưa, nơi tâm không niệm tưởng; lời nói năng hủy báng tục tĩu lỗi lầm, ghét chê Đạo-pháp, tiêu diệt các sở thích cầu mộ; tâm không Đạo hằng mê thích vật chất, chủ ý duy vật, tánh quấy chẳng hồi minh; nghiệp quả gieo trồng mười phần ác dữ lại muốn tăng, không muốn giảm; đời cực tiến, người cực ác, đời cực thịnh, vật-chất cực phát minh, nhơn loại càng cực mê lầm rời xa Đạo pháp, nhiễm tục càng lúc lại đắm nhiễm mê man như giấc ngủ say!
      PHẬT đã biết bao nhiêu kiếp chịu sanh tử, vào đời vì xót mê nhân chỉ đường chánh giác, muốn diệt khổ cho chúng-sanh, dùng Đạo vô thượng sâu mầu, dùng mọi phương chước hóa độ chúng-sanh đưa lên bờ Giác. Nhân vì cõi trược trần thường say mê mùi tục lụy, càng thâm nghiệp quả, càng giục tánh mê lầm, sa vào bàng môn, lầm đường sắc tục, nhiễm mê vật-chất, chẳng ham mộ việc tu hành, tửu nhục, tà dâm, tham lam, giận dữ, mê muội, bất năng tri, ngạo mạn tự tôn không cầu tìm Phật-pháp, chẳng hiếu thuận lòng Trời, bất tùng lời Thánh-nhân Tam Giáo, làm cho phước vãng, họa lai, TRỜI, PHẬT dầu xót thương không thể ẩm bồng! Vậy Thiện Nữ Nhân không còn chi thắc mắc?
      Nhơn thời mạt hậu tam nguơn chính là thời kỳ đại hạnh đại phước. THẦY vì cực xót họa diệt chúng-sanh, ban hồng ân đại xá, khai minh ĐẠI-ĐẠO tận độ. PHẬT vì rộng thương đại thế chúng, xót cảnh mê nhân, hoằng thâm đại thệ nguyện đến trần giác tánh chúng-sanh, chẳng những ở hiện tại mà đã từ vô lượng kiếp mấy ngàn năm quá khứ trước, cốt duy trì Đạo-pháp trong nhân chủng không để tâm tánh chúng nhạt phai. Đấng CHÍ-TÔN phải thâu hệ nguơn niên, chiết linh quang xuống cõi hồng trần mở khai Đạo báu.
      Đã mấy lần Đạo khai, Đạo bế, bao nhiêu kiếp Phật lộn xuống trần cốt vì buổi Hạ Nguơn đó. Hiện tại có hai yếu tố quan trọng hơn hết là:
      1) Thứ nhứt: Tất cả LINH-CĂN có nhứt tâm thi hành đúng với đại thệ nguyện hay không???
      2) Thứ hai: Đại thế chúng có chấp hành nguyên lý ĐẠI-ĐẠO, hòa dung Đạo thể, hướng về mục chánh TAM GIÁO QUI NGUYÊN, phục hưng nền Đạo-pháp, thể hiện một chữ “HÒA” cốt dựng lại một nền tảng Nhân Hiền Đức Thánh, do đó sẽ lần bước đến cuộc thái bình, họa tiêu diệt nhờ nơi đó mới được dung giảm lần hồi tới tan biến hết.
      Đó là hai yếu tố mà nay phải đặt vào căn bản chính.
      Nếu lý Đạo lớn thứ nhứt, ở thời nhiệm thứ ba, hoằng hóa được thành, lòng người kịp hồi minh giác tánh, ba nền Chánh-Giáo hóa đại phục hưng được thì nơi cõi Trung-Giái khí tiết âm dương sẽ được giao cảm điều hòa, vì đó sẽ sanh trưởng biết bao nhiêu Nhân Hiền Đức Thánh, mưa thuận gió hòa, phước đến họa đi, không cầu phước, phước vẫn tìm người mà đến, không cần tránh họa, họa tự xa lánh khỏi người, lời Ta không sai dối đó!
      (- Kính bạch Phật! Ơn Phật đại từ bi giảng thông yếu lý Đạo vô thượng sâu mầu, nhưng tánh ngu khờ con nay còn vài thắc mắc chưa được đạt lý. Bạch Phật! Hiện con cảm thấy lý Đạo ngày nay mở mang rất khó biết mấy hơn trước, nhứt là những nước ở phương Tây, màu da tiếng nói khác, người dân Việt-Nam tị nạn trôi dạt tới đây, việc sanh sống hằng ngày còn nhiều nỗi khó khăn thay, chính những người cùng chủng tộc với nhau, cùng một Đạo với nhau còn ý chia rẽ, đúng, sai, cao, thấp, huống chi khác Đạo, khác nòi giống, phương chi hóa độ đại thế chúng đặng thành?
      Quan điểm thứ hai là về phần đức tin. Chính trong Đạo Thầy còn phân vân nhiều lý lẽ, huống chi khác Đạo, khác giống nòi!
      TRỜI PHẬT thì vô hình vô tướng, Kinh Pháp Giáo Lý mỗi mỗi đều qua Cơ-Bút, hễ Cơ-Bút thì phải trải qua trung gian một phàm nhân, dầu cho Lý Đạo sâu mầu thế nào, huyền diệu như thế nào, nhưng đức tin của người mới là chỗ quan trọng.
      Thứ ba là sự hòa hiệp. Từ chỗ không có đức tin sẽ đi tới chỗ bất hòa. Theo lời Phật đã giảng từ thuở cuối Trung-Nguơn cũng vì lòng người cực tiến, cực khôn xảo, mất hết đức tin thế nên lại cũng bị hủy diệt, thì nay lại thế nào? Phương chi cho chúng-sanh có được tâm tánh tưởng mộ? Phương chi truyền bá Cơ Tận-Độ nầy được thông suốt vào đại thế chúng?)
      - Bạch Diệu Hoa! Thiện Nữ vừa thốt lời chánh lý! Ta sẽ giảng nói tới chỗ rốt ráo ngươi và tất chúng sẽ rõ.
      Sau Phật lịch 500 năm, vì lợi danh, vì cơ tiến hóa, khắp cõi nước thuộc về phương Tây lại hoành hành đại ác dữ, bàng môn lộng khởi, ma đạo thịnh hành. Kẻ ác dữ thì lập đạo ác, bọn tà giáo huyễn lộng, triều đại ác lại cực thịnh, nhân dân khốn khổ lầm than, lạc đường tà phiếm. Đấng ĐẠI-TỪ-PHỤ CHÍ-TÔN vì lòng bác ái, nguyện phân thân đến cõi trần dương khai truyền Chánh-Đạo. Ngài chiết điểm linh quang hạ phàm, sanh vào đất ác vùng Thái Tây, quyết giải cứu loài người không để cho tệ trạng xã hội ác dữ muội mê đó lan rộng khắp nơi mà gây thành đại họa cho vạn chủng. Nhưng bọn vua chúa ác dữ vẫn cố tìm Ngài, vì phe triệt gặp thời cơ nhân sinh đa tội, giúp cho cơ diệt hóa càng phồn thịnh, Ngài phải đành ẩn dật.
      Lúc Ngài được khai truyền Chánh-Đạo thì bọn ác dữ vẫn cố ý triệt hạ. Tuy nhiên Chánh-Đạo vẫn trường tồn, dẹp tan ma đạo tà phiếm dị đoan, dầu bọn chúng-sanh ác dữ xâm phạm đến Thánh-thể, Ngài xem thường, chịu chết trước mắt chúng-sanh để khai minh Chánh-Giáo.
      Chờ đến 7 ngày phục sinh trở lại từ giã đồ chúng, để cho người người được rõ biết Ngài thiệt là con Trời, rồi Ngài tự đem linh thể đi khỏi chỗ chết tới một nơi phước địa mà để cẩn thận rồi Ngài trở về cõi Trời.
      Người phải biết Đạo không phải dễ truyền, đời dễ chi giáo huấn! Ân đức như vậy, khổ kiếp như vậy, Đấng ĐẠI TỪ vẫn còn ban cho thế chúng vô lượng tình thương, còn buồn khóc cho đàn con mê muội mà không lòng hờn giận chút chi cả, như vậy mà đã có đức tin toàn thể hết chúng đâu?
      Những Đạo-sử tiền tích: thuở Phật Thích-Ca ra đời mở mang Đạo-pháp, Phật đã từng chịu hằng sa kiếp tử sanh, khi vào nước Thiên-Trúc làm đến bực Vương-Tử sắc tướng đoan nghiêm, trí huệ viên minh, đức hạnh vô lượng như vậy, thần thông quảng đại như vậy còn hóa độ chưa hết chúng mê! Thấu hiểu lý sâu mầu thì không gì chướng ngại cả.
Chánh tà đều ở tánh thấy đó,
Kiến tánh minh tâm ấy Đạo mầu,
Không tà không chánh Đạo vô thượng,
Không có lẻ bàn, thiệt rốt ráo,
Bỉ ngạn là ở chỗ tận không.

      Nam Mô Long Hoa Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát.
 

TẠO HÓA và NHÂN DUYÊN HỌA TIÊU DIỆT


ĐỆ THỨ HAI:
TẠO HÓA và NHÂN DUYÊN HỌA TIÊU DIỆT

      ĐẤNG CHÍ-TÔNTRỜI TẠO HÓA! Luật tuần hoàn khai dựng có ba nguơn: nguơn đầu thuộc nguơn Khởi Thủy, trước hết là sanh thảo mộc, kế sanh thú cầm, sau rốt là nhân loại.
      Từ khi có nhân loại, lúc đầu hình dạng còn giống như loài thú rừng, chỉ khác là biết đi hai chân. Thuở ấy đời sống còn lương thiện và bền lâu vô lượng kiếp. Khắp hoàn cầu non thanh nước lịch, vô cấu bất tranh, ngọc báu lót đàng, non vàng không ai làm chủ, san hô, hổ phách nơi hoang đảo như núi đá đầy dẫy không kẻ đến cầu tìm, đời sống loài người không nhọc sức cày bừa, ngũ cốc mọc đầy đồng xá, chỉ cần lượm lấy đủ dùng rồi ngao du thong thả.
      Trái ngọt thiên nhiên bốn mùa trổ chín đầy rừng, người cùng vật hưởng có thừa không khi nào thiếu hụt. Lòng người không độc ác, lòng thú chẳng dữ hung, không có loài thú ác như rắn độc, chim ác. Người và thú không đe dọa mạng sống lẫn nhau, kiếp người lâu đến mấy trăm năm không hay bịnh hoạn.
      TẠO HÓA: Luật tuần hoàn chuyển luân, máy tạo cứ dần xoay hết thạnh tới suy, cơ tấn hóa cứ luân lưu theo vòng thuận chuyển, hết hồi Thiện Đức tới lúc mở mang, tấn hóa tới biết tốt xấu, lần lượt khôn xảo, cạnh tranh, tư hữu, tấn mãi tới mức cùng cực độ là ác dữ. Ác dữ tới cực độ thì phải bị tiêu diệt. Đó là cơ Tạo Hóa biến chuyển do hành tàng của định luật thiên nhiên cấu tạo, do sự vận hành tạo hóa từ hỗn nguơn đã luân lưu mãi mãi không bao giờ ngừng, hễ đến giáp vòng thì phải luân lưu trở lại.
      NHÂN DUYÊN: Ở trên cõi sống của nhân vật là một chỗ hỗn độn phức tạp, tấn hóa và thối chuyển, từ loài người tấn hóa PHẬT, TIÊN, THÁNH; từ PHẬT, TIÊN, THÁNH có thể bị thối chuyển sang đến kiếp thú cầm, cũng từ nơi cõi Giái-Trung mà thành. Gọi một chổ Giái-Trung tức có thể tiến hơn, hoặc thối trở lại, mà nơi đó là cái trường “NHÂN QUẢ”, cứ hễ tạo NHÂN gì thì có ngay QUẢ đó, nhân duyên đeo mãi, tấn thối tại TÁNH.
      Cái Nhân Quả là cái trọng đại hơn hết ở cõi Giái-Trung này. Lưới Trời thưa, luật chẳng thấy, lẽo đẽo vướng khó gỡ ra. Cứ chết, sống để làm cái đà tấn thối rất sâu mầu kín đáo, dầu cao bay xa chạy khi chết tránh đâu??? Thể thân xá hủy rồi quyền lực NHÂN QUẢ không phương chối cãi, tội phước có sổ Thần biên chép một tấc chẳng ly!
      Tất cả Giái-Trung muôn luật, chỉ luật NHÂN QUẢ là trọng đại hơn hết!
      NHÂN QUẢ, kết họa tiêu diệt. Tiêu diệt có ba trạng thái:
      1) Họa tiêu diệt: cá nhân diệt, tai nạn diệt, bịnh chướng diệt.
      2) Thế diệt: tức là chiến tranh diệt, tập thể diệt bằng cách người diệt.
      3) Hủy diệt: tức thiên tai đồng chung thọ nạn diệt.
      NHÂN DUYÊN họa diệt có ba yếu tố:
      1) Nhân vì cơ tấn hóa luật tuần hoàn, làm cho loài người tự tiến, từ khôn, xảo, biết giành giựt, biết sát sanh giết thú vật làm miếng ăn, biết lập phe kết đảng, lấn đất giành non để bảo thủ miếng ăn, mạnh được yếu thua, giết hại lẫn nhau vì miếng ăn, vì chỗ ở đã khởi vào nạn tiêu diệt. Cứ hễ giết nhau là oán thù phải trả, kiếp NHÂN QUẢ cứ nối liền, giết thú làm miếng ăn thì thú giết người ăn lại! Tức là chúng sanh đã biết ăn uống lẫn nhau gây nhân duyên đời đời chẳng dứt! Và họa tiêu diệt cứ phát sanh theo đà tấn hóa không ngừng!
      2) Nhân vì chúng sanh dựa theo đà tiến gây nhiều tội trạng, nghiệp quả năng gieo. Câu ÁC LAI ÁC BÁO là cái nghiệp NHÂN QUẢ chung phần ở cõi sống chết, và cứ vay trả, trả vay vạn kiếp chẳng thôi! Hiện kiếp dầu không trả đó, bỏ xác rồi sau phải tái kiếp đền bồi! Bất cứ ở vào thời đại nào, hễ càng nhiều kiếp, cơ tấn hóa càng cao độ thì nhân loại càng vướng vấp nghiệp NHÂN QUẢ nặng nề, càng rời xa Đạo Pháp thiên về vật chất, nghiệp ác dữ càng thêm trầm trọng cứ qua lại, lại qua giết hại lẫn nhau diệt lần nòi giống, từ trạng thái tiêu diệt lần sang đến ảnh hưởng quá nặng nề hơn tức là chiến tranh phát khởi từ nhỏ tiến tới các cuộc đại chiến, mỗi kỳ vào cuối nguơn là phải có họa thế diệt, do vì QUẢ nọ NHÂN kia tự người làm nên họa diệt cho cả tập thể loài người, vì NHÂN QUẢ mà thành vậy!
      3) Nhân vì vào mỗi cuối Nguơn gặp nhằm thời đại cực tiến của thế hệ, vật chất cực phát thế cuộc cực đại văn minh, mọi quyền lợi con người đều bị gò bó trong cuộc đời sống cạnh tranh, nghiệp duyên càng tạo, sự đòi kéo càng nhặt thúc để chấm dứt, cuộc ác chiến lại gia tăng đến cực độ, từ trạng thái tiêu diệt lại cứ gia tăng, thế diệt thêm áp đảo liên miên, nếu ở cõi thế gian người không quay về đường Đạo Pháp, cải tà quy chánh, cải ác tùng thiện, sửa dựng cuộc mục nát thì giai đoạn thứ ba là phải đến cơ HỦY DIỆT, tức đời Thượng Cổ nguơn kỳ hủy diệt vào cuối nguơn!
       (- Kính bạch Phật! Đời Thượng Cổ vào lúc cuối nguơn tại sao Đấng CHÍ-TÔN không mở Đạo cứu đời mà lại để cho đời ấy bị hủy diệt, và hủy diệt như thế nào?)
      - Diệu Hoa, Thiện Nữ Nhân không rõ, hãy nghe đây: từ cuộc sống Đức Thánh Nhân Hiền đã được bền lâu như vậy, tuổi thọ người có tới ba, bốn trăm năm ít hay bịnh hoạn.
      Cơ tấn hóa lần sang, từ khi biết tốt, biết xấu, biết thương, biết ghét, khôn xảo biết cất giữ, giành giựt sanh tánh tham, bày sát sanh ăn thịt, khi biết ăn thịt lại sanh tánh dữ, sắm dụng cụ sát sanh và xem nghiệp sát sanh dưỡng khẩu làm nghề sanh nhai.
      Từ đó bịnh hoạn thường sanh, tuổi thọ sụt giảm, nhân và vật đã phân chia cuộc sống ngăn cách nhau hẳn. Thú vật thì tầm phương trốn tránh, người thì xua đuổi tìm tòi.
      VÀO THẾ HỆ ĂN UỐNG: Khi người và vật đã ăn uống lẫn nhau sanh mối hận thù truyền kiếp, gây nợ máu thịt nhân quả trả vay đời đời không thể dứt nghiệp. Từ lúc đã thâm nhiễm huyết nhục, vì hậu thiên nên tánh lành lần mất, tánh dữ ác càng lúc lại tăng thêm, tuổi thọ và tánh lành cứ sụt lần theo cơ tấn hóa không ngừng!
      Từ khi bộ lạc đã bắt đầu chiến tranh, cơ tấn hóa tới đâu, cơ diệt hóa theo liền tới đó. Sanh sản càng đông càng dồi dào, thì cuộc sống càng chen lấn giựt giành, sát hại nhau cướp giựt nhau, làm cho nghiệp Nhân Quả càng thâm, sự trả vay đòi kéo càng nhặt thúc. Người vay một phải trả mười chưa thể được; người đòi nợ nghiệp khiêng lấy đủ chẳng muốn thôi, thừa thế lại vay thêm tới mãn kiếp, bởi thế nên nợ nghiệp phải chịu luân lưu mãi trong cõi chúng sanh, càng nhiều kiếp lại càng cực nặng.
      THẾ HỆ ÁC DỮ: Vì thế hệ đại ác dữ, ở trong cõi chúng sanh đã triệt hết Đạo Pháp, hết Đức Thánh Nhân Hiền, phong trào xã hội ác dữ biến sanh nhiều tội trạng, trộm cướp sát nhơn, giết vật giết người, bủa lưới giăng dò, ăn uống hết thú vật rừng thiêng biển cá, say máu ghiền thịt lại lập đảng giết người mà ăn uống, đầu tiên còn tìm giết kẻ thù địch, sau giết Hiền nhân mà làm miếng ăn gọi là bổ dưỡng!
      Về sau các chúa ác ra đời; các triều đại ác lại cực thịnh. Các vua ác đồng nhứt xuống lịnh triệt Đạo Pháp, đốt phá chùa miểu, bắt hết thầy tu mổ bụng chặt tay chân đem cúng tế yêu quỷ rồi ăn thịt để sống lâu!
      Người lành đã bị chúng dữ uy hiếp sát hại gần hết, đoạn triệt hạ Đạo Pháp. Khi ấy cửa Đạo “BẾ MÔN”, Phật không ưa gần chúng sanh, Thánh Tiên phải xa lìa kẻ tục. Bát vạn Thiên môn đều bế tắc, khí tiết âm dương bất điều hòa luôn luôn phẫn nộ nóng bức, trời hạn nắng nóng như lửa chan, khí tiết không phân định bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông nữa. Mùa màng canh phế, đồng áng trống trơn. Hạn hán tới năm thứ ba, sông ngòi sắp cạn. Vua các nước ác dữ hợp sức cùng nhau kéo quân đánh chiếm tràn lan hết số nước khác còn lành hơn, còn có sự sống. Chúng đánh chiếm tới đâu thì tàn sát tới đó. Cướp giựt rồi lại sát hại ăn tươi nuốt sống để di dân dữ tới chiếm cứ mà sống lánh họa Trời. Càng cực ác lại cực thịnh, thành công ở thế hệ ác nhưng chẳng bao lâu.
      Lúc bấy giờ vào năm hạn hán thứ 5, chúng ác bắt dân xây lâu đài cực cao, lập hội Hoa Đăng, tự tôn chúa ác lên ngôi Thượng Đế!
      Hạ chỉ truyền thông hịch khắp hết nhân dân, mỗi gia dân đều phải hiến nữ trinh 15 tuổi vào công đình 3 ngày mới được đưa về gã cưới, đó là nạp mình cho bọn gian ác. Có khi may được thả về, thường là giết để ăn uống, hoặc cho voi chà trước sân để chúng ác xem trong buổi tiệc rượu! Trời hạn tới năm thứ 7, khắp cõi đất đều khô khan, thảo mộc chết tuyệt, nước biển cả cạn xuống rất xa, sông ngòi khô hết, sức nóng mặt trời mỗi lúc lại gia tăng cực cao, bọn vua ác không cách trốn lánh, dân ác chết vì nạn nóng đã nhiều, phần nào chết khát, chết đói!
      Vua, chúa ác lại truyền lịnh đảo chánh Đức Ngọc-Hoàng, lên án xử tử nếu không làm mưa!
      Vào ngày mùng 10 tháng 4, hạn hán năm thứ 7, giữa lúc nữa ngày, bừng lên ngọn lửa từ trên đỉnh lâu đài ác chúa phát cháy lớn. Gió nóng thổi mạnh, lửa cháy lan tràn khắp nơi, lửa cháy mỗi lúc càng hơn, gió lại thổi nhanh, tiếng gió lửa hải hùng, khói đen cao ngất mịt mù tới mấy chục ngàn do tuần. Lửa càng nóng dữ dội, sức nóng mặt trời tăng thêm, làm cho ngọn lửa vẫn duy trì cháy từ đông sang tây, nam chí bắc, thiêu rụi khắp hết các cõi nước trong vòng 7 ngày đêm liên tiếp. Vào hết ngày thứ 7, sấm chớp bủa giăng khắp trời, cuồng phong nổi dậy, gió cuốn mây bay đá lăn sỏi chạy, lại đổ mưa ầm ầm nước tuôn như thác đổ. Những tiếng nổ vang động bầu trời, đất đai sụp đổ, thủy lụt tràn lên cuốn chảy. Gió bảo càng thổi mạnh, sóng thần nổi dậy ba đào, đất đai nhiều nơi phải sụp chìm thành biển!
      Mực nước lên cao hơn ngọn núi, thủy lụt hết cả 3 ngày đêm khắp cõi nước. Qua ngày thứ tư nước rút cạn liền, bỏ lại mặt đất trống trơn, nhiều nơi cõi đất trở thành biển, cảnh tượng hoang vắng, không có người, vật, không có thảo mộc, không có kiến, muỗi, dế, trùng, y như thuở hỗn độn mới tựu ngưng!
       (- Kính bạch Phật! họa hủy diệt như vậy, sau lửa và nước còn có xứ nào sống sót được hay phải bị tiêu hủy hết?)
      - Cũng vẫn không hết tuyệt, người và loài vật còn lại 3 chỗ đất sống. Ba cõi đất còn sống lại để sanh sản tái tạo đó tức là 3 cõi đất chưa được tấn hóa, 3 giống dân thiểu số còn sống cuộc dã man ở vùng rừng núi rất hẻo lánh, không gần những nơi đã khai hóa mở mang lâu.
      Ba cõi sống cách biệt nhau rất xa không bao giờ được hiểu biết cùng nhau cả. Chúng còn lại sẽ có 3 sắc thái khác nhau, 3 thứ tiếng nói khác nhau:
      1) Sắc thái màu vàng.
      2) Sắc thái màu trắng.
      3) Sắc thái màu đen.
      Chúng còn sống với thời đại dã man, vì chúng ấy là những số người lành, từ xưa vì bị chúng dữ uy hiếp sát hại, nên cùng nhau cố sức tìm cách rời khỏi xứ sở, phiêu lưu đi những phương trời xa xăm, ẩn trú miền núi cao rừng rậm, sống riêng với thú vật, cứ hễ đói thì tìm trái rừng làm no, khát thì có suối thiên nhiên làm nước uống.
       Đời sống nguyên thủy, chẳng có áo quần, lông tóc tạm che thân trở lại như hồi mới sanh hóa. Qua mấy trăm năm đã sanh sản rất nhiều, nhưng không được tấn hóa. Sau khi đời văn minh đã bị hủy diệt thì số dân dã man nầy mới được tái tạo lập đời lại.

      Nam Mô Long Hoa Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát.
 

DIỆU-MINH BẢO-PHÁP DI-LẶC CHƠN-KINH


 

  

 
THƯỢNG-NGUƠN THÁNH-ÐỨC
DIỆU-MINH BẢO-PHÁP DI-LẶC CHƠN-KINH
_________

ĐỆ THỨ NHỨT: NGUYÊN NHÂN ĐẠI-ĐẠO

      Tôi nghe như vầy: Lời Phật dạy rằng: Bạch-Diệu-Hoa, Thiện Nữ Nhân hãy tịnh tâm hướng về Thượng Giới, nhiếp thọ Đại Chơn Ngôn nơi Kim Liên Tòa, đài cao giữa không trung lời lành Ta nay nghiêm thuyết. Tánh Phật đại từ bi, trí Phật hằng soi khắp cảnh giới u minh, thế gian ngũ trược vạn khổ ách nơi chúng sanh. Phật thường dạo khắp thế giới Ta Bà, năng vì chúng sanh khổ nên thường nhập khổ để giải khổ cho chúng sanh. Dùng phương chước tâm mộ, sở thích, tín ngưỡng, nguyện vọng, cơ hội, trình độ, các phương tiện dùng làm môn hóa độ diệt khổ!
      Ở cõi nhân gian thường có Phật đương lai hằng sa, vô lượng kiếp. Nhứt là thời cuối rốt nguơn tam, vì sao? Vì bối cảnh nhân loài đã lâm nhằm cơ thế diệt. Đời trược ác vật chất đa sanh, vì phiền não tai ách chúng khổ, vì sanh lìa tử biệt chúng khổ, vì dục vọng sanh phiền não khổ, vì chiến họa binh đao khổ, vì bần cùng khổ, hoặc vì chiến họa nguyên tử khủng bố, mọi tai ách thường sanh, tiếng kêu than vang rền chẳng dứt!
      Họa tiêu diệt đến với chúng sanh không ngừng nghĩ kể từ thời nhiệm ĐẠI-ĐẠO khai minh lục thập niên qua ở hiện đại, sẽ diễn tiến đến tương lai trong những ngày sắp tới!
      Hỡi Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhân! họa tiêu diệt nguyên nhân từ đâu có?
      Do định luật của Tạo Hóa phải chăng??
      Bạch Diệu Hoa, hãy thay mặt cho tứ chúng giải đáp nhân duyên sâu mầu ấy thế nào?
       (- Kính bạch Phật! Theo ngu ý của con thì họa tiêu diệt kỳ Hạ Nguơn nầy chắc không phải do Tạo Hóa, mà do vì loài người ở vào thời đại văn minh nầy đời sống vật chất, xã hội cấp tiến, đời sống hướng về vật chất nhiều hơn đạo đức, nghiệp nhân quả ở thế gian ngày thêm trầm trọng, đến lúc phải đền trả lẫn nhau gây thành họa diệt, chớ không phải do Trời định.)
      - Lành thay! Thiện Nữ Nhân đã hiểu thật phải đó.
      Thứ hai: vì nguyên nhân gì kỳ Tam Nguơn ĐẤNG CHÍ TÔN phải khai minh ĐẠI-ĐẠO, và tại nhân duyên gì lại tôn xưng là “ĐẠI-ĐẠO”? Diệu-Hoa, Thiện Nữ xét hiểu thế nào hãy bạch trình lên.
       (- Kính bạch Phật! Con vì trí nhỏ nơi Kim Liên Đài con không đủ kiến thức phúc đáp việc lớn, lạy nhờ ơn Phật giảng độ!)
      - Lời Ta chắc thiệt: Lòng Trời đức háo sanh vô lượng, lòng người tánh háo sát vô biên! Vào buổi đời mạt hậu nầy hễ người nào có tánh ác dữ thì mỗi lúc lại càng say mê thêm với nghiệp dữ, càng mê lầm lại gây tánh mê mãi chẳng dứt! Trái lại, người nào có tánh lành mỗi lúc tới lại càng tinh tiến hăng say trên đường hành thiện, mộ Đạo Pháp, thích xem Kinh Sám, ưa nghe thuyết giảng Đạo Lý sâu mầu, công quả không chán, bố thí lại ao ước được bố thí mãi, ham mộ trì trai, thích ưa đọc Kinh khuyến Đạo cho người khác, tóm lại những căn lành đó đều là các bực Linh Căn cả.
      Hễ có người gieo nghiệp ác dữ, thì có kẻ gieo trồng giống lành, thiện và ác cứ đi song, lành dữ lẫn lộn, thiện ác khó phân, cõi thế gian là một cõi phức tạp! Phật, ma lẫn lộn nghiệp duyên xoay vần quả kiếp đời đời!
      Nay Ta muốn hỏi Thiện Nữ Nhân Bạch Diệu Hoa, tánh người xét biết cõi sống duy vật nầy mọi tư tưởng ở thế gian người ta lấy cái điều gì làm quan trọng hơn hết? Bạch Diệu Hoa, Thiện Nữ hãy bày tỏ tánh hiểu biết thế nào?
       (- Kính bạch Phật! Con vốn hậu sanh trí thấp, vì lời Phật trên dạy, con xin vâng đáp theo ngu ý của con. Bạch, con cảm nghĩ, nếu như tâm lý chung của người thế gian thì chắc đa số người ta nghĩ rằng chỉ có tiền bạc là món quan trọng cho đời sống hơn hết. Nhưng riêng con thì con thấy không phải! Chỉ có sự sống chết mới là quan trọng hơn hết, vì kiếp người đã được sanh, trưởng không phải dễ có, từ khi đã được trưởng thành, có cả trí khôn tài giỏi hoạt bát thông minh, học thức, nghề nghiệp, kẻ thì lập sản nghiệp kinh doanh, người vào quan chức, bác học, võ nghiệp, văn khoa, cứ mặc sức kinh dinh ngang dọc, nếu rủi khi vấp ngã, cái thân mạng phải chết, sẽ không tạo sống trở lại được cái kiếp đó, thoảng như vấp ngã về tiền tài, bị thất bại phá sản, thân mạng còn đó họ vẫn tạo của cải lại được, như vậy tức là cái thân mạng quý, chỉ có sự sống chết mới quan trọng hơn hết.)
      - Lành thay! Rất phải đó, nhưng chưa đầy đủ. Vì tâm tánh chúng sanh cũng phải còn chú trọng các món khác nữa, vì tánh mê lầm cứ xem vật chất là báu trọng, không xét thân mạng là quý báu hơn, lại vì cái nhỏ mà đánh liều thân mạng không tự hồi minh, đem cái thân mạng nhúng vào tai họa đổi lấy các món không đáng!
      Các món ấy là gồm những gì? DANH, LỢI, TÌNH, TIỀN tức là 4 cái liều thuốc (độc dược) của nhân loại. Tất cả thân mạng vì tánh mê lầm phải nhiễm vào 4 cái liều ĐỘC DƯỢC đó mà quên hẳn cái thân mạng quý vô giá của chính mình nở không giác tánh!
      Vào đời hậu mạt nầy, chúng sanh chỉ vô ý thức, cứ mê nhiễm vật chất đem thân mạng nạp cho 4 cái món vô tri đó! Bao nhiêu xương máu, bao nhiêu cuộc chiến tranh, giết hại lẫn nhau, tham tàn ác dữ, hễ chết thân mạng là cuối cùng, vì đó mà gây thành nghiệp quả! Hễ vay nợ máu thì phải đền thân mạng, chết kiếp là hủy diệt, cái truyền kiếp nhân quả ở chúng sanh, nghiệp duyên tới vạn kiếp mãi đến thối thân cũng chưa giác tánh biết thân mạng!
      Khắp cõi đất, nước đều hay gây cảnh tương tàn tương sát, người chẳng biết thương người, vật không lòng mến vật, lâm nhằm tệ trạng mưu diệt lẫn nhau làm cho tiếng khóc thảm rền vang rúng động tới cõi hư linh chẳng dứt!
      Đã hằng gây cuộc chấn động nơi cõi đất, làm cho khí tiết thường hỗn loạn biến sanh những triệu chứng kinh hoàng, đất chuyển trời long, cuồng phong thủy lụt thường biểu hiện ở khắp nơi, có khi tới mức độ dữ dội như hỏa diệm! Vì khí hậu trược ác đã mãn địa xung thiên, mịt mịt như khói un, lấp che cả bầu không gian thanh tịnh, làm cho khí Thanh Hư không thể phưởng phất tới được hầu trợ tá dương sanh, cõi đất sống chỉ ưng chịu với khí hậu trược, âm thuần, nên khó thể gìn an bảo tồn thiện phúc!
      Nếu đã thuần nhiễm khí hậu thiên, lòng người càng sanh mê bất phân thiện ác, không thấy sự quấy lỗi nơi tánh, năng tư tưởng sự quấy tham dục vọng, không ưa điều lành, ghét chê Đạo Pháp, bất nghĩa, bất nhân!
      Trừ những người có thiện tâm, thiện tánh, hướng mộ tu trì, lập tâm cầu Đạo, đó là Linh Căn.
      ĐẤNG CHÍ-TÔN vì đức háo sanh vô lượng, không thể mặc nhiên nhìn vào cảnh tượng thống khổ bi đát ở cõi sanh linh hằng tái diễn!
      Một thuở ấy, nơi Đền BẠCH-NGỌC hội đủ Chư Thiên, Tam Giáo công đồng hội chầu NGỌC-ĐẾ, ĐẤNG CHÍ-TÔN dùng đại ngôn tuyên phán rằng: “Thế cuộc hậu mạt Tam Nguơn nhằm thời mạt pháp, nhơn sanh nhiều tội, chiến họa binh đao, thiên tai địa ách, cuộc đời tiêu diệt sẽ đến với nhơn sanh! Ta nay quyết chủ quyền Khai Minh Chánh Giáo tận độ sanh linh, không thể để cho đại họa diệt vong đến với sanh linh một lần thứ 3 nữa”.
      Giờ hội chầu nơi KIM-KHUYẾT đông như hằng sa vô số kể! Khi ấy bèn có một vị ĐẠI-HẠNH PHÁP VƯƠNG TỬ bước ra thủ lễ, vai hữu bày ra, một gối đặt xuống, đại ngôn trình tấu: “Bổn tánh đương nhiên đại bi vô lượng, duy độc ngã giả, bất khả dụng tu (Nếu chỉ một tôi có lòng đại bi không thể hành tròn việc lành). Nay nhờ ơn Đấng Đại Từ Lành đã công phán giữa đền, Pháp Tử nguyện tùng duyên hóa độ, lai đáo trần gian chịu kiếp khổ làm người, dùng Đạo Pháp THẦY TRỜI làm phương châm dìu độ chúng sanh, nguyện giác tha bốn chúng giải cứu tánh mê, cầu Đạo vô thượng lánh khỏi họa diệt, nếu không hành tròn nguyện, quyết không trở về đất Phật!”.
      ĐẤNG CHÍ-TÔN vì cảm lời Đại Thệ Nguyện của ĐẠI-HẠNH, Ngài bèn đại ngôn phát lời Đại Thệ Nguyện: “Nay Ta vì nhơn sanh quyết lập Đạo cứu thế, nếu Đạo không thành, Ta nguyện không trở lại NGỌC-KINH!”
      Hoằng thệ thâm như hải! Đức rộng đã vô biên! Khi ấy, nơi LINH-TIÊU-ĐỀN toàn tất Chư PHẬT, TIÊN, THÁNH và các TRỜI, RỒNG đồng phát hiện hào quang, vô cùng cực ngỏ lòng tán thán Đại Công Đức Từ Bi vô lượng của ĐẤNG CHÍ-TÔN, cùng ĐẠI-HẠNH PHÁP VƯƠNG TỬ! Bỗng nhiên tại nơi Ngọc Đền ngàn muôn thứ hoa đồng nở một lượt, khoe đủ màu sắc tươi sáng như hào quang! Mùi hương hoa bay thơm bát ngát, mùi hương Chiên-Đàn thơm khắp mười phương! Nhạc Trời trổi vang động! Các Chư Thiên đồng mặc tịnh một giờ để tán thán ân đức vô lượng ấy! Sau khi thưởng thức các điệu, trở lại Hội Đàn có hằng hà sa số Chư PHẬT, THÁNH, TIÊN cũng đồng phát nguyện đáo cõi trần lao, chịu kiếp khổ làm người để giúp THẦY hành thâm Đại Công Đức! Dụng Đạo THẦY TRỜI làm phương châm hóa độ chúng sanh khử ám hồi minh lánh họa diệt, dựng cuộc thái bình, nếu không tròn thệ nguyện quyết không đáo vị! Lúc bây giờ lại cũng hằng ngàn thứ hoa đủ màu sắc đồng nở hết một lượt, mùi hương thơm bát ngát khắp cõi! Sáu điệu nhạc lại trổi lên vang động tán thán công đức vô biên vô lượng của tất cả Chư Thiên vô cùng cực! Một giờ sau, các điệu đồng êm lặng, ĐẤNG CHÍ-TÔN kịp giờ công phán đại ngôn, truyền lịnh khai thị Đại Tôn Danh Đạo ấy là: “ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ” và Đạo Danh Ngài là CAO-ĐÀI, lấy hai chữ CAO-ĐÀI để làm tên chánh của cái Đạo, và Ngài dạy rằng: CAO-ĐÀI ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ.
THI:
Tiền ẩn đại danh CAO bắc khuyết,
Hậu xuất hoa khai ĐÀI thông truyền,
HUỲNH-ĐẠO phổ dương Đồ-Bát-Quái,
THIÊN-KHAI nhứt mạch thái bình yên.
đồng thời đăng danh nơi Kim Ngọc Bảng, và Ngài giảng danh rằng: “Mối Đạo CAO ĐÀI được thành danh ngày nay là có đủ cả Tam Giáo. Hễ tam mà quy nhứt thì thành ĐẠI, ở trong TAM GIÁO gồm có NGŨ CHI; TAM GIÁO quy tức có NGŨ CHI hiệp, sẽ thành một mối Đạo lớn nhứt!”
      Khi ấy từ nơi Kim Ngọc Bảng chiếu hiện hào quang đủ năm sắc sáng chói tỏ rạng vô cùng cực, cả thảy đồng nhìn thấy hết thảy mọi viễn tượng ở cõi thế giới Ta Bà từ một tới 100 năm thế diệt, ĐẠO cứu vớt như thế nào, đời diễn tiến thế nào, khổ ách dường bao, tất cả đều biến hiện không sai một mảy! Và từ 100 năm tới 500 năm, từ 500 năm tới 5000 năm, đều biểu hiện cả thảy!
       (- Kính bạch Phật, tám chữ danh xưng như vậy con thấy đã hoàn thiện hoàn mỹ rồi, nhưng nay nơi hải ngoại lại có mở thêm ĐỆ NHỊ và có trên danh xưng thêm 4 chữ HUỲNH-ĐẠO THIÊN-KHAI nữa, con muốn thông đạt được nghĩa đó. Lạy nhờ ơn Phật giảng độ.)
        - Diệu Hoa! Thiện Nữ vừa cầu hỏi, Ta sắp giảng nói đó. Nhân 4 chữ “HUỲNH-ĐẠO THIÊN-KHAI”, vì chữ HUỲNH là sắc thái màu vàng, ĐẠI-ĐẠO khai minh địa cảnh tại vùng Đông Nam của quả đất thuộc nhằm Châu Á, bổn Quốc Đạo tại Việt Nam dân tộc da vàng. Vào thời điểm sơ khai Đạo chỉ truyền thông nơi bổn xứ, nên không được phổ dương cái Đại Tôn Danh là HUỲNH-ĐẠO, chờ khi Đạo được xuất dương phổ truyền khắp các cõi nước, đủ các sắc thái dân tộc được thấy biết cái Đạo THIÊN KHAI thì chúng mới thấy là mối Đạo ấy đã khai xuất và hoằng dương tận độ là chỉ có giống người da vàng, đem cái THIÊN ĐẠO dựng lập Cơ Cứu Thế, chỉ có một màu da vàng làm được cái Đại Công Đức đó, về sau này tất cả các sắc thái khác mới chịu tin theo.
      (- Con xin tạ ơn Phật 3 lạy và kính Phật, vì con đã nghe lời Phật giảng rằng: THẦY không muốn để cho cõi nhơn sanh bị họa lớn tiêu diệt như hai kỳ trước, tức THẦY quyết không để có đại họa kỳ thứ ba, như vậy vào thời Thượng Nguơn Thánh Đức cũng có lâm vào đại họa diệt thế như vậy là thế nào? Tự con chỉ nghĩ ở đời Thượng Cổ là Đức Thánh Nhân Hiền.)
      - Bạch Diệu Hoa! Thiện Nữ Nhân phải xét biết, bất cứ thời kỳ nào sự tấn hóa trên vũ trụ cũng diễn tiến y như kiếp sống của nhân vật, cũng ở trong 4 cái nguyên lý kiếp là SINH, TRỤ, DỊ, DIỆT. Hễ rốt tới sau chót thì phải có thời nhiệm cực tiến, cực phát minh, cực ác dữ, nên phải lâm nhằm cơ hủy diệt kiếp! Ở trên cõi thế giới Ta Bà này từ hữu hình lẫn đến vô tri hễ có sanh phải có diệt, có sắc có tướng đều có hoại có diệt.
       Không nên lầm rằng ở thời Thượng Cổ về sau không có họa diệt. Thiện Nữ hãy tịnh tâm nghe Ta thuyết minh đoạn này.
      Nam Mô Long Hoa Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát.