Thursday, January 9, 2014

ĐÀI SEN HAI PHẨM CHIẾU HÀ ĐỒ

Minh Cảnh Đàn, Tý thời 05 tháng 03
năm Mậu Tuất (1958) (#16)

ĐÀI SEN HAI PHẨM CHIẾU HÀ ĐỒ

THI :
ĐẠO ĐỨC KIM TIÊN ngự bút đề,
KIM TIÊN hộ giá GIÁC MINH phê.
ĐẠI TIÊN BỬU GIÁC lai đàn báo,
Có lịnh giá long điển ngự đề.

ĐẠO ĐỨC KIM TIÊNGIÁC MINH KIM TIÊN GIÁC BỬU ĐẠI TIÊN. Chư Tiên ngự tiền đàn báo tin. Chào đạo tâm trung đàn, thành tâm nghiêm chỉnh chớ xao xuyến, định thần đại tịnh tiếp giá. Chư Tiên hộ đàn...
Tiếp điển :
THI
CAO tột ngôi Càn ẩn bóng NGÔ,
ĐÀI sen hai phẩm chiếu Hà Đồ.
TIÊN thiên giáo huấn vi căn cũ,
ÔNG định chủ trương cả Việt Hồ.
CAO ĐÀI TIÊN ÔNG – NGÔ TIÊN ÔNG. Thầy mừng các con, an tọa.
Việt Hồ Sở Hơn tứ châu lưu,
Thế kỷ hai mươi tận cuối cừu.
Tận diệt tuần hườn THẦY cứu thế,
Thàng phang Đạo xuất thị vô ưu.
                                                                          *****
BÀI :
Hai mươi thế kỷ tuần hườn,
Châu nhi phục thỉ băng sơn tang điền.
Cơ tạo hóa mối giềng chuyển đổi,
Xoay âm dương biến khối ngọc cơ.
Đảo điên phong võ bất ngờ,
Thiên hình vạn trạng tai ngơ đặng nào !
Buổi tận thế đành vào chịu ngạt,
Vì nhơn sanh thị ác vô lương.
Táng tâm đố thị hùng cường,
Vô biên giải thoát trên đường ngạ môn.
THẦY thảm khốc bao hồn vạn loại,
Lấy từ bi chuyển máy huyền cơ.
Cửu môn bế lịnh Thiên thơ,
Đem mầm Đạo giáo bến bờ rước con.
THẦY ráng sức cứu tròn vạn loại,
Đem đò Tiên bố rải sông mê.
Hoát khai đại lộ hiệu đề,
Cao Đài tôn giáo phá mê mộng hồn.
Ngã phổ tế Chí Tôn lịnh sắc,
Cõi hoàng hôn điển đặc sáng soi.
Cứu nguy tuyển lấy giọng còi,
Khêu hồn sanh chúng để noi chơn truyền.
THẦY thả thêm con thuyền Bát Nhã,
Rước linh căn kiếp đọa tiền duyên.
Sớm lên bách lái về liền,
Lãnh cờ sắc lịnh lái thuyền tế nguyên.
Con hữu duyên đạo thuyền sớm gặp,
Thì con mau cần tập cần rèn.
Tô bồi lái mũi đại then,
Thể Thiên hành hóa rọi đèn dắt em.
THẦY cậy con sớm đem về đủ,
Cửu nhị nguyên THẦY phú thác đồng.
Mau mau luyện tập thành công,
Mau mau rèn giũa đại đồng pháp luân.
Con có biết bao tuần biến đổi !
Vì nhơn sanh giả huyễn bất khâm.
Nên chi THẦY ứa lệ dầm,
Nỡ ngơ tai điếc để trầm chúng sanh.
THẦY mừng con đạo lành sớm gặp,
THẦY mừng con đặng cấp Thiên thơ.
Mừng con tiến bộ kịp giờ,
Mừng con nam nữ lên bờ giác minh.
Mừng con đoạt lấy Đạo Huỳnh,
Mừng con khoa hội đăng trình thủ khai.
Mừng con sớm tỉnh sớm quày,
Sớm lên thuyền Nhã Thiên đài có Cha.
THI :
Cha lành ban phúc cả sanh linh,
Điểm hóa con thơ phận hữu hình.
Cứu khổ kinh vàng con gắng niệm,
Từ nay đồng thể nhớ cho in.
HỰU :
Cho in khuôn mẫu của THẦY truyền,
Niệm đủ đếm rành cả nhị thiên.
Nam nữ bất phân ghi chính đính,
Rồi con sẽ thấy bí tâm truyền.
HỰU :
Tâm truyền khẩu thọ chớ đưa nghe !
Nhứt tứ nhị khôi lánh bóng hè.
Đạo đức siêng dồi tâm mẫn đạt,
Ngũ hành vận chuyển khá đừng khoe !
HỰU :
Đừng khoe con thảo gắng tô bồi,
Điểm lễ lệ kỳ chứng vị hồi.
THẦY thượng hư vô con tiến bộ,
Ban hành con thảo giá long hồi.
                                                  Thăng…
Minh Cảnh Đàn, Tý thời 13 tháng 03
năm Mậu Tuất (1958) (#17)
THI :
Đàn trung huynh đệ NHỨT tâm hòa,
Đại tịnh phò loan tiếp BỬU tòa.
Hộ giá điển huyền TIÊN Phật ngự,
Trọn lòng Thiên điển hộ NƯƠNG à.
            NHỨT BỬU TIÊN NƯƠNG. Bần Nương mừng huyết mẫu. Chào đạo tâm thúc bá, tỉ muội,       đạo huynh. Bần Nương đắc lịnh báo tin có long giá ngự tiền đàn. Chư đạo tâm y hành nghiêm sắc chỉ.    Bần Nương xuất ngoại…
Tiếp điển :
        NGÔ TIÊN ÔNG. THẦY các con, THẦY mừng các con. THẦY cho phép các con an tọa :
THI :
Âm dương hiệp nhất gọi là Trời,
Phân cách nặng nề đất hạ vơi.
Biệt luận trung ương không khí hội,
Lưỡng nghi tứ tượng tám cung Trời.
BÀI :
Đạo chuyển đổi lưng vơi tám tiết,
Bát quái xoay vô diệt vô biên.
Trời xoay đất động liền liền,
Dương trừng âm biến mối giềng hóa sanh.
Có bốn hướng khắc sanh tương đối,
Hiệp tám cung sửa đổi hoàn cầu.
Vận hành biến biến thâu thâu,
Có sanh có tử trong bầu càn khôn.
Hữu hình tướng điền môn mạch giáp,
Vô vi hòa động kháp Nê Hườn.
Đạo mầu bất đoạn giả chơn,
Bất phân sắc tướng liên hườn vô biên.
THẦY dạy sơ có duyên thì hiểu,
Con nào nghe phản chiếu hồi quang.
Cơ mầu diệu lý hành tàng,
Long phi kim đảnh hổ toan giỡn mồi.
THẦY điểm hóa con bồi thiên khuyết,
Huệ linh quang con biết tự hành.
Nữ nam gắng chí luyện phanh,
Kỳ khoa chiếu bảng bia danh sĩ hiền.
Vinh con trẻ lái thuyền bờ bến,
Mỹ biên cương gạn đến đáy hồ.
Phó gìn chú niệm kim cô,
Miên miên họa tấm bảng đồ kiểu xưa.
Tuồng lớp cạn giờ trưa ban chiếu,
Y thật hành bổn kiểu chơn truyền.
Trực trung ngộ đảnh may duyên,
The phò huyền pháp chổi Tiên phất trần.
Dành lìa cảnh phong vân tiến bộ,
Mơi huyền linh điển bố vô minh.
Huỳnh lương mộng ảo đừng gìn,
Trưa hầu chen bóng ác hình khuất mây.
Chước chi có giải dây oan trái,
Nô duyên tiền con biết chăng à ?
Trừu gìn bổn chánh tam khoa,
Tươi màu nhờ tuyết đượm hòa sớm trưa.
Trước học lấy kiểu xưa bổn chánh,
Ngưu lam điền là cảnh thanh nhàn.
Láng điền so mạch cô yên,
Dựa thâu chưa đủ hống diên đơn hào.
tụ khí linh bào chiếm điện,
Hiến gìn trau ba kiểu tinh anh.
Thiệp tâm bí khuyết chóng nhanh,
Nu ly đạo pháp chen hành u môn.
Văn lý học ôn tồn tâm điểm,
Tự tâm hành tụ khối đơn điền.
Lừa lần bốn vách xa chơn,
Phát tâm huệ khiếu cổi thân giả huyền.
Khiết hữu hạnh đạo Tiên gắng nhé !
THẦY Trời đây con chớ vẽ hình.
Mười hai Thiên điện rộng thinh,
Gồm thâu một túi Thiên đình Trời Cha.
Kiệu hạnh ngộ Tiên gia gắng trổi,
Đời vô biên phước tội dẫy tràn.
Tuần hườn tứ hải năm sang,
Có chi là quí trên đàng Tiên du !
HỰU :
Tiên du cảnh báo động Thiên Thai,
Thông khiếu huyền linh ngấm trổi hài.
Hồ điệp mộng hồn quên thức nhạn,
Hưởng liên đào hỏa cảnh lộng dài.
BÀI :
Dài câu kệ ghi bài nữ liệt,
Cũng hùng thư hiền triết sử vàng.
Có chơn nhảy thoát tam quan,
Võ môn cửu khấu tên vàng đề ghi.
Quản bóng xe lam tàng mờ mịch,
Quyên bay về đậu khít lồng son.
Thời lai tuyển bóng trăng tròn,
Chữa vàng ghi tạc nét còn đậm tên.
Hằng con định mình quên người nhớ,
Thôi tập tường vách hở mọt vào.
Nữa chừng tam bửu gìn trau,
ghi chơn đỉnh mảy hào đừng rơi.
Ngọc ẩn đà không rời bụi áng,
Nhung nhiễu điều con đậm nét đề.
Giúp Thầy THẦY sắc tứ triển phê,
Mầu kim đơn luyện chớ hề lạt phai.
Chắc bảng ngọc đề bài cho chắc,
Dứa gương còn ghi chắc tên đề.
Ba phần là báu tam huê,
Xi liêng tránh ngọn bẫy ranh vô tình.
Biệp kêu tiếng vắng hình khó biện,
không tường chơn bỉnh lạc lờ.
Ruộng lam điền chớ cày sơ,
Lầu xinh cao giá chớ lo lem hình.
Cẩn ký điệp tiền trình THẦY chấm,
Hoằng tam niên còn đạm thêm hòa.
Gìn hồi tứ bửu tam hoa,
Thất môn đóng cửa huê đà luyện thêm.
Ngọ chìu bóng cung thêm sáng tỏ,
Khai tam huê còn rõ là châu.
Thửa ghi tam bửu là đầu,
Thiên in bửu vật song mâu tam tài.
Bài lạc thơ luyện hoài thành pháp,
Liên huê hồng cho hạp huyền linh.
Quyên quyên tam bửu tụ hình,
Âm dương tứ cá chiếu in tam tài.
Đồng yếu điển khó bày cạn lý,
Con nữ nam đồng thủy đồng chung.
Kỷ niệm con thảo trùng phùng,
Đàn trung bế mạt thủy chung trọn tình.
Bồ Đào tửu một bình Tiên cúc,
Phúc THẦY ban bổ túc từ đây.
Mỗi con đệ tử của THẦY,
Đắc ban cộng hưởng bửu đầy THẦY ban.
Thôi con còn tại trung đàn, trung
Giá long THẦY ngự Niết Bàn xuất phi…
Minh Cảnh Đàn, Tý thời 15 tháng 03
năm Mậu Tuất (1958) (#18)
THI :
BỬU châu vật quí ít người mơ,
GIÁC cảnh dày công tự bấy giờ.
ĐẠI đức đại hiền THẦY chuyển đến,
TIÊN đài căn cũ đạm Thiên thơ.
* * *
Lễ thành ghi chạm khắc nơi tâm,
Gìn trọn hiếu trung phận sự tầm.
Hiến lễ y nguyền Tôn Sư điểm,
Đạo tâm biết chánh trí năng tầm.
BÀI :
Nay Bần Đạo giá đàn đắc lịnh,
Báo tin sung trọng thính trung tâm.
Chỉnh nghiêm nội điện hương trầm,
Nghiêm bài tam bửu thành tâm khẩn nguyền.
Có long xa ngự đàn tiền,
Bần xin xuất bút điển Thiên chiếu vào…
                                                               Tiếp điển :
THẦY các con.
THI :
NGỌC ẩn non cao giữa thạch kỳ,
HOÀNG đồ THẦY dạy khá lo tu.
THƯỢNG lưu hạ sĩ khôi bình bản,
ĐẾ khuyết con trau kịp khỏi nguy.
NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ. THẦY mừng các con trung đàn đồng thể.
THẦY cho phép các con an tọa nghe. Đại tịnh !
BÀI :
Ngày sơ tứ điện vàng THẦY ngự,
Lễ đạo thành con giữ y truyền.
Chứng lòng con cả đàn tiền,
THẦY ban hạnh phúc con miên vĩnh hòa.
Bồ Đào tửu Tiên gia pháp Phật,
THẦY ban con giữ một truyền tâm.
Tám tiết đạm đính đầm dầm,
Bốn giờ chính chắn chỉ chăm hành trình.
Đó con thảo đinh ninh lời huấn,
THẦY thường ban thường chứng con thanh.
Phận mình tu tập luyện phanh,
Dầu cho gai gốc cam đành chớ than.
Mặc trối kệ trần gian biến lạc,
Đạo tâm con tự giác tự siêu.
Tự lời giáo huấn tám điều,
Con ghi gìn kỹ mơi chiều phướng thâu.
Tiếp bài. Có chi bạch !
Đạo hữu Vinh bạch ……………………………
            Con hầu ghi chính lễ lệ kỳ, con chỉnh y truyền tứ bửu đầy đủ là nguyên tam huê trọn hiếu, ân Thiên chứng lòng.
NGÂM :
THẦY sắc phê y đồng lời tấu,
Chớ lạc lê mất dấu chơn truyền.
Đủ đầy hiếu nghĩa thành duyên,
Tân dân minh đức chơn truyền gìn trau.
Thôi, THẦY ban ơn mỗi con. THẦY hồi Kim Khuyết. Thăng…

TAM GIÁO & TAM BỬU & TAM TRẤN OAI NGHIÊM


TAM GIÁO & TAM BỬU & TAM TRẤN OAI NGHIÊM
                    
TAM GIÁO & TAM BỬU & TAM TRẤN OAI NGHIÊM
 1.   TAM BỬU LÀ GÌ?
                Hiến Lễ Ðức Chí Tôn là : Bông, Rượu, Trà, thể theo Tam Bửu của con người là: Tinh, Khí, Thần. Ấy là vật báu nhứt của thế gian. Khi chúng ta hiến lễ cho Ðức Chí Tôn thì phải trau giồi tô điểm ba vật báu ấy cho tinh khiết, chẳng nên để nó nhiễm lấy bụi trần ô uế thì báu vật ấy trở nên vô giá trị. Vậy chức sắc, chức việc nam nữ cần phải trau tria thân thể và trí não tinh thần cho được trong sạch. Mỗi khi hiến lễ ta cần dâng các bửu vật ấy cho Thầy để làm hột giống tốt đặng gieo trồng cho nhơn sanh nhuần gội chung hưởng ân huệ của Thầy ban. Vậy điều cần yếu là chức sắc vào hàng Thánh Thể, phải trong tu dưỡng ba vật báu của mình cho thanh bạch, hầu hiến lễ Ðức Chí Tôn. Thuyết Ðạo QI / tr 27
        - TINH ( Bông ) : là Ngài biểu dâng hình thể của ta tức nhiên dâng xác thịt ta nghĩa là dâng cái sống của ta nơi mặt thế gian nầy đặng cho Ngài làm khí cụ đặng Ngài phụng sự cho con cái của ngài, nó thuộc về Tinh tức nhiên Bông đó vậy. Phải dâng cho Ngài cái hình xác của chúng ta cho đẹp đẽ,  trong sạch, thơm tho, cho quí hóa như Bông kia mới được. Tưởng tượng Ngài muốn cho chúng ta trong sạch như vậy là vì Ngài mong con cái của Ngài biết thương yêu lẫn nhau rồi lại tự mình tu tâm dưỡng tánh thế nào cho đẹp đẽ mỹ miều như bông kia đặng xứng đáng làm Thánh Thể của Ngài, đặng phụng sự cho con cái của Ngài.
        - KHÍ ( Rượu ) : Ngài thế cái Chơn Thần của ta tức nhiên thế cái trí thức khôn ngoan của ta về Chơn Thần, tượng ảnh trí thức khôn ngoan tức nhiên Ngài biểu cả trí não con cái của Ngài phải dâng trọn cho Ngài đặng làm khí cụ. Giờ phút nào toàn thể con cái của Ngài có trí óc khôn ngoan đặng phụng sự cho nhơn loại thay thế cho Ðại Từ Phụ mà nói rằng : Chúng tôi không biết làm gì ngoài phận sự Thiêng Liêng của Ðức Chí Tôn giao phó. Ngày giờ nào toàn thể con cái của Ngài biết nói như thế đó, thì ôi! Hiến cho Ðức Chí Tôn một vật quí hóa không thể gì nói được.
        - THẦN ( Trà ) : Ngài thế Trà là tâm hồn, tức nhiên Ngài biểu cả tâm hồn của ta hiệp lại làm một khối với nhau. Giờ phút nào toàn thể con cái của Ngài hiệp cả tâm hồn làm một, cái tâm hồn nầy sẽ làm tâm hồn của mặt địa cầu nầy, cho trái đất nầy, nó sẽ làm tâm hồn của toàn thể nhơn loại.
        Ngày giờ nào cả toàn thể con cái của Ngài tượng ảnh tâm hồn cho toàn thể nhơn loại được thì ngày giờ ấy có thể Thánh Thể của Ngài mới phụng sự cho vạn linh tức nhiên con cái của Ngài hạnh phúc được. Chỉ ngày giờ ấy mới có thể nói rằng : Nhơn loại hưởng được hồng ân đặc biệt của Ngài, mà hưởng được hồng ân đặc biệt của Ngài thì ngày ấy mới mong hưởng được hòa bình và đại đồng thế giới.
        Bây giờ Tam Bửu ở trong Hội Thánh. Cả toàn thể anh em, chị em chúng ta đây là TINH, là hình thể của Ngài tại thế nầy. Hình thể của Ðức Chí Tôn là trong ta đây hết. Ngày giờ khối trí thức của toàn thể nhơn loại tượng hình ra mà nói biết rằng Ðạo duy nhứt là Ðạo Trời với Ðạo Người hiệp làm một. Giờ phút nào cả toàn thể nhơn loại biết mình đến đây có phận sự để tô điểm kiếp sống của nhơn loại cho đặng hạnh phúc, đặng bảo trọng sanh mạng của toàn thể vạn linh cho đặng hạnh phúc, giờ phút nào có cái đấy thì mới tượng ảnh ra KHÍ của mặt địa cầu nầy.
        Nói đến tinh thần Bát Quái Ðài nghĩa là cái HỒN. Chúng ta đã ngó thấy rằng con người sanh nở nơi thế gian nầy nếu ba món báu ấy mà không có thì xác thịt nhơn loại cũng thế, vật chất cũng thế, toàn thể nhơn loại cũng thế. Nếu nói rằng có xác thịt không có hồn, hay có hồn không có trí thức bảo vệ sống còn của mình thì chúng ta đã ngó thấy tận tường rồi đó, người không hồn ngơ ngơ ngáo ngáo, người có hồn không có trí thức chẳng hề khi nào định mạng được.
        ... Toàn thể con cái của Ngài hy sinh phụng sự vạn linh, tức nhiên phụng sự cho toàn thể nhơn loại biết đặng, hiểu đặng hạnh phúc mình do nơi sống chung cùng nhau, nhượng sống cho nhau, tạo hạnh phúc cho nhau...  (Thuyết Ðạo QV / tr 17)
        Ba cơ quan tạo nên hình thể con người. Chơn linh ta do nguyên khí mà có, nguyên khí là Tiên Thiên Khí. Chơn Thần do Hậu Thiên Khí kết thành, còn xác thịt thì do vật chất mà nên. Hỏi vậy ta muốn sống đây do cơ quan nào ?
        Ấy là nhờ chơn linh mới có sự sống, chơn linh có một quyền năng vô đoán, chưa có khoa học nào tra cứu rõ thấu được, cái quyền năng của nó là do Ðức Chí Tôn ban cho. Quyền năng của chơn linh không giới hạn, nó là quyền năng bảo trọng đường sống của vạn loại, của xác hình. Chơn thần là Hậu Thiên Khí, nó bảo trọng vật chất khí.Trong ba khí chất ấy tạo ra hình hài chúng ta, chơn linh là nhứt điểm linh quang do Chí Tôn mà có để bảo trọng cái sinh mạng, cái sống của thi hài. Ðến ngày giờ nào niên kỷ đã định hết khối sanh quang rồi thì cái quyền năng ấy ra khỏi xác thì xác phải hoại, chúng ta gọi là tử. Ấy vậy ta thử kiếm coi Tiên Thiên Khí, Hậu Thiên Khí và Vật Chất Khí là gì ?
        Chúng ta sẽ thấy bất kỳ vật hữu hình nào cũng có ba thể chất : Vật chất thì mắt ta thấy. Mùi vị là Hậu Thiên Khí. Năng lực là Tiên Thiên Khí. Ba khí chất nầy tạo ra hình hài của con người, vật chất mùi vị, năng lực thế nào thì loài người thế ấy, vì chúng ta thấy một hột gạo, nấu ra cơm, ăn vào để lấy cái tinh ba của nó là Hậu Thiên Khí phục nguyên khối sanh quang của ta được tồn tại. Tinh ba của vật chất nó vào mình làm cho xác hài có năng lực tráng kiện,
ta thấy khi bủn rủn tay chơn là do thiếu sanh khí đó vậy.
 Chơn Thần là hậu thiên khí, ta không thấy mà chớ nên tưởng rằng không có. Ta ăn hột cơm vào bụng, lọc lấy cái tinh ba là huyết khí để nuôi lấy khối sanh vật nầy. Ta biết có mà không thấy được. Chơn thần chúng ta, thiên hạ kêu là phách, vía cả thảy đều có…
2.  TINH - KHÍ - THẦN
Phàm con người có ba món báu:
- Tinh là xác thân của cha mẹ sanh ra.
        - liên quan với xác thân là hơi ( KHÍ ), nó tiếp xúc liên quan bảo trọng sự sống. Sự sống là nuôi nấng lấy hình hài chúng ta bằng sanh quang do nơi Phật Mẫu tạo mà có.
        - Linh hồn ( THẦN ) ta là của Chí Tôn ban cho.
        Mà có ba thành một, một thành ba gọi là Tam Bửu : Tinh, Khí, Thần.
        Chí Tôn lại chọn lựa vật quí báu là : Bông ( Tinh ), Rượu ( Khí ), Trà ( Thần ) là ý nghĩa Ngài muốn đòi hỏi con cái của Ngài những món quí mà ta có để sống ấy hiến cho Ngài, tức là Ngài muốn toàn con cái của Ngài sống mãi với Ngài đó vậy. Muốn cho khỏi phụ lòng Chí Tôn thì ta phải đào luyện cho đệ nhị xác thân ấy đặng tinh khiết nhẹ nhàng. Muốn được vậy, ta chỉ có hai điều là phải trau giồi :
       - Chỉnh tu cho cái đệ nhị xác thân được tráng kiện hoạt bát, tùng khuôn viên thiện đức. Ðệ nhị xác thân ta khi còn sống ở quanh mình ta, bảo hộ về sanh quang tiếp với đệ tam xác thân là linh hồn. Khi lìa khỏi xác thúi hôi hữu hoại thì nó trực tiếp ngay với linh hồn nếu nó được thanh khiết;
        - bằng nó nghiệt ác thì nó phải dính líu với cái xác thúi hôi nầy mà phải chịu lìa xa cái linh hồn thì thần tử sẽ rước đi mà phải đọa là vậy. Bởi cớ Chí Tôn ban cho ta cái Bí Pháp (phép xác ) cắt đứt dây oan nghiệt cho nó rời hẳn với đệ nhứt xác thân được khinh phù nhập một với linh hồn tức là hằng sống.
        Loài người quá xảo quyệt khôn khéo tiềm tàng sự sung sướng xác thịt nầy, tại do đó mà gây nên biết bao nhiêu việc thần sầu quỉ khốc...Chí Tôn biết rõ loài người tiến hóa tột bực mà tự đắc tự tôn, chỉ biết lo cho xác thịt mà thôi, không chuyên lo cho đệ nhị xác thân và tinh thần nên Chí Tôn đến khai Ðạo là cố ý giáo hóa cho loài người biết rõ câu tội phước, giồi luyện cho con người tận thiện đến hiệp cùng Ngài… Nếu ta thấy được cõi Hư Linh kia, cái tinh của vạn loại bị giết chóc một cách tàn nhẫn, bởi loài người kết oán thù thâm với nó, chực chờ thù ghét, vì vậy mà có vay trả luân hồi mãi mãi đọa đày, bất năng thoát tục.
        Mong sao chúng ta từ đây phải biết trọng lấy lẽ ấy mà luyện đệ nhị xác thân cho đủ đầy sự tinh khiết là phải thương loài vật, phải thương tất cả để chấm dứt cái oan nghiệt ấy mà truyền bá cái huờn thuốc linh đơn nầy là đạo đức của Chí Tôn, để cứu vớt quần sanh thoát vòng đọa lạc hoàn toàn.
Cả thế gian nầy biết được vậy thì chắc chắn không còn cảnh thảm khổ nầy tái diễn lại nữa. Loài người do một nguyên căn mà thôi, bởi do tâm lý và tập quán của các nước, của các sắc dân vì cái khác ấy mà chia phôi nhau, nghịch lẫn nhau, thù địch nhau mà tranh tranh đấu đấu không ngừng. Vậy Thánh Ý của Chí Tôn khai mở Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, Tam Giáo Qui Nguyên, Ngũ Chi Phục Nhứt là muốn dung hòa tâm lý toàn cả con cái của Người để cứu vãn trên 92 ức nguyên nhân vì thế mà bị sa đọa nơi đây. Chí Tôn đã đại từ đại bi chỉ rõ nguyên căn mà ban ơn cho ta, dạy dỗ cho ta để đạt ngôi vị là phải trau luyện cho Tinh hiệp với Khí, Tinh Khí huờn Thần là cơ huyền bí để mà đắc Ðạo vậy.
        Trọng giá của Tam Bửu mà Chí Tôn ưa chuộng để dâng Ðại Lễ cho Ngài là nguyên nhân chấm dứt cái họa tranh thù mà gây nên trường oan nghiệt cho toàn thế giới. Ấy vậy, muốn duy trì sự hòa hiệp đại đồng nầy cũng do nơi gốc Bí Pháp đó mà thôi, dầu triết lý uyên thâm đạo đức mà tôn giáo nào cũng không qua lẽ ấy ; mà nếu không đạt được thì toàn lẽ ấy là đệ nhị xác thân của toàn thể ô trược tội tình thì thế giới sẽ điêu tàn tiêu diệt mà chớ. (Thuyết Ðạo QI / tr 34)
3. SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA TAM BỬU VÀ TAM TRẤN OAI NGHIÊM
          Chúng ta suy nghĩ coi không có gì quí hơn xác thịt, trí óc và linh hồn ta hơn hết. Ðức Chí Tôn đến biểu chúng ta dâng ba báu vật ấy cho Ngài, Ngài không đòi hỏi dâng cho Ngài cái gì khác. Giả tỷ như đời thượng cổ nhơn loại dâng cho Ngài tới cái sanh mạng con người, nên người ta phải giết người để làm tế vật. Sau đó thay thế mạng sống con người, nhơn loại lại dâng tam sanh tức nhiên bò, trâu, heo. Bên Âu Châu theo Ðạo Do Thái thì dâng cho Ðức Chí Tôn một con Chiên trắng, con Chiên ấy phải trắng như tuyết mà thôi.
        Giờ phút nầy Ðức Chí Tôn đến biểu chúng ta dâng Tam Bửu: Bông, Rượu. Trà ; tưởng đâu là gì, thiên hạ nói báu gì đâu ba món ấy gọi là báu. Ai ngờ ba món báu ta dâng cho Ngài là báu vật, bởi vì Ngài là Chúa của ta, Ngài tạo sinh ta, Ngài là Cha của ta về phần hồn và phần xác, Ngài đòi ba món quyền sở hữu của Ngài cho ta, lấy ba món báu của ta đó vậy. Bây giờ nếu như người tầm Ðạo kia nói: Tôi không biết Ông đòi ba món ấy để làm gì? Tôi không biết Ông dùng ba món báu là xác thịt, trí não và linh hồn của mình để Ông làm gì? Người ta để dấu hỏi tức nhiên ta phải trả lời. Chúng ta đã thấy hiện tượng Ðức Chí Tôn đến qui Tam Giáo: Nho, Thích, Ðạo; lấy cả tinh thần đạo đức của ba nền tôn giáo ấy đặng làm môi giới chuẩn thằng. Rồi lập thêm làm gì Tam Trấn Oai Nghiêm? Có phải chăng lập Tam Trấn Oai Nghiêm là để bảo vệ ta và Tam Trấn Oai nghiêm có bổn phận dâng lên cho Ðức Chí Tôn, sự thật như vậy, Nếu không, Ðức Chí Tôn chẳng hề khi nào sắm Tam Trấn Oai Nghiêm ra làm gì cho chúng ta thờ phượng, ấy vậy Tam Trấn Oai Nghiêm tượng trưng ba báu vật ấy.
        - Ðức Quan Thánh tượng trưng Tinh, tức nhiên tượng trưng xác thịt của chúng ta…. Bần Ðạo đã có thuyết minh Ngài tượng trưng Tinh, tức nhiên Ngài là đại diện của Nho Tông chuyển thế đó vậy. Nếu trong cử chỉ hành tàng kiếp sống của chúng ta, chúng ta có thể học đòi theo cả hành tàng của Ngài, lấy Xuân Thu làm chuẩn thằng lập chí. Tưởng nếu cả toàn thiên hạ lập chí cho xã hội, phục vụ cho xã hội dường nầy, tôi tưởng nhơn loại không hạnh phúc nào cho bằng.
        -  Ðức Lý, tức nhiên anh Cả Thiêng Liêng chúng ta, giờ phút nầy Ðấng Thiêng Liêng đến cầm quyền Giáo Tông trong Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ mà cũng là Nhứt Trấn Oai Nghiêm nữa. Ngài đại diện cho Tiên Giáo đó, mà Tiên Giáo chúng ta đã thấy gì? Thấy kiểu vở Tiên Giáo trong tinh thần chữ Ðạo, phải chăng Ðức Ngài chỉ cho chúng ta thấy chữ Ðạo là gì? Ðạo là cái sống, cái sống mà thiên hạ đã biết nhưng mà không hiểu tình trạng và tướng diện của nó, bí mật của nó thiên hạ nơi thế gian nầy chưa biết. Bần Ðạo lấy một tỷ thí như nam nữ phối hiệp nhau, sao lại sanh ra đứa bé, cái bí mật đó là gì? Trứng gà, nếu có trống khi ấp lại nở ra con, cái sống đó là gì? Ðức Lão Tử gọi đó là Ðạo. Ðạo ấy trong cái sống tối thiểu, có cái sống tối đại của nó. Cũng như cái sống bí mật của ta, đương giờ phút nầy, đương nhiên sống với bạn đồng sinh của ta đây. Ngoài ra cái sống nữa, cái sống bí ẩn, sống Thiêng Liêng mà Ðức Chí Tôn gọi là  Hằng sống của Ngài ban cho ta đó vậy, đấy là Ðạo.
        Ðức Lão Tử đã dạy cho trí khôn ngoan của loài người mở rộng cái sống bí ẩn, sống với vạn linh trong sự sống với càn khôn vũ trụ. Các người bảo trọng cái sống của các người thì các người phải cung kỉnh thờ phụng cái sống của vạn linh. Ấy là Ngài dạy cho ta tôn sùng cái sống, tức nhiên trí não của mình mở mang, hiểu sống đã là Ðạo mà Người thay quyền cho Ðạo tức nhiên Ðức Lão Tử đặng cầm giềng mối giữ gìn cái mực thước sống của chúng ta cho còn tồn tại đó vậy. Ấy vậy, Ðức Lý tượng trưng cả trí não tinh thần chúng ta, bảo vệ Ðạo tức nhiên bảo vệ  sự sống còn của nhơn loại vạn linh, thuộc về Khí.
        - Ðức Quan Âm Bồ Tát, Ngài tượng trưng cho Linh Hồn chúng ta. Phải chăng chúng ta sanh ở thế gian nầy đang mang nặng thi hài xác tục nầy, cả toàn nhơn loại trên mặt địa cầu có mặt nơi đây phải chăng do quả kiếp của họ. Bần Ðạo không nói trọn hết thảy bị quả kiếp, cũng có những Ðấng lãnh sứ mạng của Ðức Chí Tôn đến giáo đạo dìu dắt vạn linh. Hại thay! Chín mươi hai ức nguyên nhân cũng vì sứ mạng tối yếu tối trọng ấy, thay vì lãnh sứ mạng của mình trọn vẹn lại quá ham sống, gây nên tội tình phải bị sa đọa. Thành ra một ông thầy đến giáo đạo lại trở thành một học trò, quá tệ hơn trò nữa.
 Giờ phút nầy có một điều thắc mắc hơn hết, chúng ta thấy trong vạn linh, con người tối linh hơn vạn vật mà ta ngó thấy có thứ người không phải là người. Họ đã mang xác thịt làm người như mình, họ tàn ác dối trá gian ngược làm cho các Ðấng Thiêng Liêng hay là người đạt đạo ở thế gian nầy cũng vậy để dấu hỏi đến phẩm người mà vậy, hỏi họ có đáng làm người không? Họ có đáng ngồi trong phẩm vị đại hồi nầy, hay tiểu hồi vật loại? Nếu chúng ta để nhóm người đó ở trong tiểu hồi vật loại thì bất công vì chính mình người ta đã đạt tới nhân phẩm. Nếu để trong đại hồi, trong nhân phẩm thì không đáng vị, bởi vì cớ cho nên Ðạo Giáo để phẩm Maya, tức nhiên Quỉ Vị, phẩm vị riêng biệt là 'Quỉ Vị'.
        Ấy vậy Ðức Quan Bồ Tát là một Ðấng thường du Nam Hải. Các cửa Phong Ðô nơi Cửu Tuyền kia là con đường của Ngài đi lên đi xuống không biết mấy lần, không biết thế kỷ nào dứt để tận độ cho thiên hạ, Ngài tượng trưng cho một cơ chế Thiêng Liêng giải cả oan nghiệt tội tình, giải cả nhơn quả cho chúng sanh đạt vị, tức nhiên đạt cơ giải thoát…    ( Thuyết Ðạo QV / )
3.   HỒNG ÂN CỦA ĐỨC CHÍ TÔN
        … Hai mươi bốn năm qua Bần Ðạo không hề tưởng tượng được một cái hồng ân vô đối của Ðức Chí Tôn đã chan rưới cho giống nòi Việt Thường. Nay giữa hồi nhơn tâm điên đảo, quyền hành tinh thần đạo đức điêu linh, tâm hồn loài người thống khổ vì thiếu phương an ủi, ta đã ngó thấy nhiều lẽ bất công của xã hội diễn ra trước mắt, nhiều tấn tuồng đau thảm không thể tả ra bằng ngôn ngữ đặng!  Bần Ðạo chỉ nói rằng trong thời buổi hổn độn cả nhơn luân của nhơn loại bị sập đổ, Ðức Chí Tôn đến, Ngài đến với một phương pháp đơn giản tạo nền Chơn Giáo của Ngài. Bần Ðạo nhớ lại buổi Ngài mới đến, Ngài xin với mấy vị Tông Ðồ ba món báu gọi là Tam Bửu.
  1-Là xác thịt.
2-Là trí não.
  3-Là linh hồn
của mọi người hiến dâng cho Ngài, đặng Ngài làm cơ quan cứu thế độ đời. Hồi buổi nọ chúng ta chưa hiểu nghĩa lý là gì ? Biết bao nhiêu kẻ, biết bao tín đồ đã để dấu hỏi Ðức Chí Tôn đến xin ba món báu đặng tạo quyền gì kia chớ ?
Thưa cùng toàn thể con cái của Ðức Chí Tôn, Ngài lấy trong một số ít của Thánh Ðức Ngài tạo cho thành tướng một khối thương yêu vô tận. Có một điều làm cho chúng ta ngạc nhiên hơn hết là từ thử đến giờ nhơn sanh đã hiểu quyền năng vô đối của quyền lực thương yêu, nhưng họ chưa hiểu biết thống nhứt cả khối thương yêu ấy đặng làm phương cứu thế độ đời, hay là làm phương châm tạo hạnh phúc cho kiếp sanh của họ. Trái ngược lại họ chỉ thống hiệp tinh thần thù hận, oán ghét làm cho mặt địa cầu nầy biết mấy phen đẫm máu, nhơn loại tương tàn tương sát với nhau là vì họ bội tín của họ, biết thù hận hơn là thống hiệp thương yêu.
        Bần Ðạo ngày nay đứng đây xin thú thật rằng : Mấy em toàn thể con cái Ðức Chí Tôn đừng có tưởng rằng tới ngày nay Qua mới hưởng được cái hạnh phúc của mấy em đã trải ra trước mắt đây, mà Bần Ðạo hưởng hạnh phúc trước ngày Ðức Chí Tôn hiệp mấy em lại làm Thánh Thể của Ngài, trong khối yêu thương vô tận của Ngài tạo dựng nên một đại gia đình Thiêng Liêng mà từ thử đến giờ mặt địa cầu nầy chưa có. Mấy em đã ngó thấy có bạn, có cha, có anh có em, có thân bằng cố hữu, có chủng tộc, thiên hạ dưới thế gian nầy chưa hề tưởng tượng giá trị nó được. Gia tộc hiện hữu đã có nó, mất còn tại đây. Còn gia tộc Thiêng Liêng trong đại gia đình mấy em nó vẫn trường tồn mãi mãi bất tiêu bất diệt. Mấy em suy nghĩ điều ấy, kẻ nào hưởng giá trị ấy mới có hiểu cái mùi vị cao siêu của nó; cái ơn ban thưởng của Ðức Chí Tôn nó còn giá trị và quí trọng hơn nữa.
        Mấy em là Qua, Qua là mấy em, nam nữ cũng vậy ; cả thảy mặt địa cầu nầy giờ nào nhơn loại biết hiệp với nhau làm cho thành tựu cái gia tộc tại mặt thế nầy là đại gia đình Thiêng Liêng đó vậy... Cây cờ cứu thế Ðức Chí Tôn, nó đã hiện tượng một cái quyền Thiêng Liêng vĩ đại giờ phút nầy và còn tới nữa, thật quyền năng vô đối của nó là quyền năng thương yêu vô tận của mình đó vậy. Ngày giờ nào toàn thể nhơn loại biết thương yêu với nhau như lời Ðức Chí Tôn đã dạy thì giờ ấy là hạnh phúc cho nhơn loại đã đoạt đặng. Chúng ta đã ngó thấy những điều Ðức Chí Tôn đến nói không phải là mới vì trước kia có hai Ðấng đã làm :
- Ðấng thứ nhứt là Ðấng mỗi bữa mang Bình Bát Vu đi hành khất xin ăn, đem về Cấp Cô Ðộc Viên, nuôi những kẻ đói khổ là Ðức Phật Thích Ca đó vậy.
- Ðấng thứ nhì là Ðấng bẻ từ miếng bánh mì, chia từ miếng cá, cho đến mảnh áo Tam Tinh của Ngài cũng lột cho kẻ rách, Ðấng ấy là Jésus Christ.
        Bần Ðạo nói quả quyết hai vị Giáo Chủ đã làm nên nền tảng tinh thần đạo đức cõi Á Ðông và Âu Châu là hai nền Phật Giáo và Công Giáo. Nếu đã được thi thố như thế ấy, lưu lại cho đời một khối vĩ đại là do năng lực yêu thương của Ðấng ấy. Ấy vậy không chi mới mẻ hết.
        Cây cờ cứu khổ của Ðạo Cao Ðài là thương yêu mà thôi, sau nữa là quyền công chánh. Nếu thi hành hai điều ấy được thì mới đem hòa bình thực hiện nơi mặt địa cầu nầy được. ( Thuyết Ðạo QIII / tr 90 )
5. DÀNH SẴN GIA NGHIỆP & PHẨM VỊ CHO CHÚNG TA
              Ngày nào ta về cảnh vô hình sống trong khối tạo đoan chừng đó ta mới biết Ðạo là có phận sự bảo trọng chúng sanh, khuyên lơn dạy dỗ và giục thúc cho các đẳng linh hồn tăng tiến trên đường tấn hóa. Ta chỉ đặng phép thương yêu binh vực chớ không ai đặng mưu hại giục hư. Cõi Hư Linh, nếu ta đạt pháp xuất ngoại xác thân, tương hội cùng các bạn cõi vô hình thì ta thấy khác hẳn theo tánh chất phàm tâm tưởng tượng. Cõi Hư Linh các bậc cao trọng, Thánh, Tiên, Phật chỉ có mơ ước thiết thực nhất môt điều là làm thế nào giúp ích cho chúng sanh. Các Ðấng ấy rất may mắn gặp những dịp để an ủi tâm hồn chúng sanh hằng giờ hằng buổi không thiếu tình thương.
        Chúng ta đến làm người, cốt yếu đạt cho được cơ tạo đoan trở nên chí linh chí thánh, một kiếp học thêm một bực, để ngày kia mong mỏi làm Trời. Các bạn biết Phật Thích Ca xưng là Bổn Sư, người tu gọi là Thầy, nếu các chơn linh ấy gặp được, thấy được, gần được Phật thì đối với Phật không ngoài mức bạn thân ái. Ở thế nầy dầu một vị Phật cũng không chê ai, không hạng nào chê, hạng nào khen vì Phật đã biết con đường đi trước kia, dầu ai phàm, dầu ai lạc hậu cũng tới sau, họ chỉ biết một điều là chỉ từ nẻo quanh co, vui vẻ chỉ cho bạn đi cùng đường đạt lên Phật vị. Họ không dám chê ai, chẳng phải đối với loài người mà thôi mà đối với tất cả vạn loại, chúng sinh chỉ là anh em còn lạc hậu đó vậy.
        Con vật mà ta thấy bị giết được là vì nó  không phương bảo vệ. Ngày nay giết nó mà ăn thịt biết đâu sau nầy các bạn lạc hậu ấy tiến hóa đến phẩm người trở lên, rồi chúng ta sẽ gặp nó bên mình, khi ấy nó ngó ta mà cười và hỏi: 'Xưa kia Ðức Phật có ăn tôi một lần'. Nghĩ tưởng chẳng gì sĩ hổ thẹn thuồng bằng. Thế nên ta phải ăn chay. Chưa có ai nhẩn tâm giết người đặng ăn thịt, cũng không có ai đặng quyền giết các bạn lạc hậu ấy để ăn.
        Ta đến đây làm bạn cùng vạn vật chúng sanh, vạn vật giúp ta học cho thấu đáo huyền vi cơ đạo, tạo chí linh nối nghiệp Ðức Chí Tôn. Thầy có nói: Thầy dành sẵn gia nghiệp phẩm vị cho chúng ta, Thầy không khi nào lấy lại, trừ ra kẻ nào từ bỏ bởi Ðại Từ Phụ mà không tin sao? Ông cha phàm kia còn yêu ái con, trước buổi nhắm mắt còn tính để lại cho con một phần gia nghiệp hương hỏa. Một điều là ông cha phàm làm với phạm vi nhỏ, phương pháp nhỏ theo phàm. Còn ông cha thiêng liêng không lẽ thua ông cha phàm, Thầy nói : Thầy dành sẵn gia nghiệp ngôi vị thì Thầy không có quyền cho kẻ khác, trừ khi mình bỏ…
        Bần Ðạo dám chắc Thầy không hề chịu thiếu ai và Thầy không hề quên mối nợ tình ái của con cái của Ngài. Nếu Thầy không thường món nợ ấy thì Hộ Pháp hứa sẽ tái kiếp luân hồi bồi thường cho đủ. Vì những kẻ dám đem mình làm tế vật cho Thầy để lập nên một quốc gia Thiên định tại thế nầy, Bần Ðạo chắc quốc gia ấy phải thành. Ðức Chí Tôn tạo cho con cái của Ngài một cửa nhỏ tuy khó đi mà Bần Ðạo chắc rằng những hạng con cái dám chết vì Ngài thì chúng nó dám đạp văng cửa ra, chúng nó đi sấn đến. Nếu chúng ta có con mắt Thiêng Liêng, ngày nào họ đi ngang qua thì ta sẽ thấy các Ðấng dầu chư Thần, Thánh, Tiên, Phật tức là các chơn linh cao trọng cũng phải cúi đầu. Thầy sẽ trả bao nhiêu món nợ tình ái của con cái của Ngài thì không biết, chớ không khi nào Ðức Chí Tôn trả cho một mà phải trả nhiều hơn là hẳn vậy. Xin cho toàn Ðạo nam nữ sao lục nguyên văn để phổ thông chơn lý. 
TÔN GIÁO & NỀN VĂN MINH HIỆN ĐẠI
1. LỄ  ÐĂNG ĐIỆN XÁ LỢI PHẬT
             Xá Lợi của Ðức Phật Thích Ca là gì ? Khi Ðức Phật Thích Ca qui vị thì Ngài để Di Chúc cho cả môn đệ của Ngài Hỏa Táng , tức nhiên thiêu cái thi hài đó. Thi hài của Ngài đã đốt nhưng chẳng hề khi nào tiêu hết, vẫn còn lại mấy miếng xương của Ngài dư thừa lại không cháy gọi là Xá Lợi.
        Buổi sau nầy nước Anh tức nhiên Anh Quốc hiệp lại với nước Ấn Ðộ mới đào lên gặp một cái hộp bọc pha lê, trên nóc có để chữ rằng 'DI HÀI XÁ LỢI ÐỨC PHẬT THÍCH CA' lúc đó nước Anh mới lấy cả hộp Xá Lợi ấy. Sau nầy nước Ấn Ðộ được độc lập mới đòi nước Anh phải trả Xá Lợi Phật cho Ấn Ðộ, nhưng Ấn Ðộ buổi đó cuộc cách mạng tranh chủ quyền độc lập vẫn còn ở trong Liên Hiệp Anh. Mãi đến sau nầy nước Ấn Ðộ mới hoàn toàn độc lập, nhưng trong tín ngưỡng về Phật Giáo tức nhiên Ðức Phật Thích Ca đã giảm suy nhiều vì cái lẽ loạn lạc của đất nước nên chánh phủ nghĩ rằng: Ðể trong nước e Xá Lợi có thể bị mất nên dành để có một ít, chia cho Tích Lan một ít. Ðức Narada Théra đem hiến cho Toà Thánh Ngọc Xá Lợi là người Tích Lan đó vậy. Ba cây Bồ Ðề cho Tiểu thừa một cây, cho Tiểu Thừa Miên quốc một cây còn một cây của Ðại thừa đem về Tòa Thánh. Hột Ngọc Xá Lợi đem về Tòa Thánh hôm nay là đặc biệt của Ðại đức Narada Théra, Phó Giáo Tông của Ðạo Giáo Tích Lan, lấy của tư của Ngài hiến cho Toà Thánh.
        Ðức Phật Tổ tức nhiên Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni ( Boudda Cakyâmouni ), cả thảy con cái Ðức Chí Tôn đã nghe Ðức Narada Théra thuyết Ðạo rồi. Ngài nói Ðức Phật Thích Ca là người cũng như chúng ta, có xác thân như ta, sống chết như ta chớ không phải là người ở trong thần thoại. Nhưng cái cao siêu về tâm hồn của Ngài, về tiền căn Thiêng Liêng của Ngài đã lên tới Phật Vị. Ngài tái kiếp làm người với mảnh thân phàm của Ngài cũng như ai kia vậy. Cái quí trọng của Ðức Phật Thích Ca họ đã nhìn nhận cái cao siêu về linh hồn của Ngài trước khi chưa đầu kiếp…
Cảnh Hằng Sống không phải ở thế gian nầy với thi phàm xác tục của ta,
mà cảnh Hằng Sống ấy nó ở nơi cảnh Thiêng Liêng vô hình kia.
         Cảnh ở thế gian nầy là cảnh đau khổ, họ muốn cho các vị giáo chủ của họ phi phàm, họ bày ra nhiều cái thuyết thần thoại, giờ phút nầy làm cho khoa học phải đánh đổ về cái lý lẽ ấy, đánh đổ rất khoa học không thế gì chối cãi được. Nào là họ nói Ðức Chúa Jésus Christ do một người đồng trinh đẻ ra, chính trong Ðạo Sử của Ðức Chúa Jésus, Cha của Ngài là Ông Thánh Josept, Mẹ của Ngài là Bà Marie. Họ lại nói Ðức Phật Thích Ca khi xuất thế ở trong nách của bà Maya mà ra, Ðức Lão Tử cũng thế, họ làm cho giờ phút nầy cả tín đồ các tôn giáo khó giải quyết, họ đem cái lý do thần thoại nêu ra làm một chơn thật. Hại thay! Nếu mọi sự chơn thật nó có thể làm cho cả đức tin con người phải điên đảo. Chúng ta ngó thấy cơ thể tạo đoan có âm dương tương hóa mới sản xuất hình ảnh tức nhiên cả kiếp sanh và sanh mạng cả toàn thể vạn linh nơi mặt địa cầu nầy. Ðừng nói chi nhiều, như điện lực, nếu không âm điện và dương điện thì chúng ta không có ngọn đèn sáng như thế nầy được. Lại nói đến hơi thở của ta không có âm khí (Nitrogen), dương khí (oxygen), nếu chúng ta không có hơi thở đó chưa chắc gì chúng ta sống đặng, Đừng nói chi nhiều, cả cơ thể tạo đoan không có hàn nhiệt ôn lương thì vạn linh nơi mặt địa cầu nầy chưa chắc họ sống còn và tồn tại được.
        Huống chi luật tạo đoan phải có cha mẹ, có âm dương của cha mẹ mới sản xuất cái nhơn hình của chúng ta, thành thử Ðức Phật Thích Ca cũng sanh như ai kia vậy, nhưng tiền căn của Ngài cao siêu hàng phẩm của Ngài tới Phật Vị, cho nên sự sáng suốt khôn ngoan của Ngài phi phàm hơn hết nên cả nước Tích Lan (Ceylan) đều gọi Ngài là Mâu Ni tức nhiên một vị hiền triết vô đối của họ. Họ tôn tặng chức tước, tôn tặng Ðức Thích Ca xứng đáng quá chừng cũng như Ðức Chúa Jésus Christ nhờ thiên căn sáng suốt thành thử người ta gọi Ngài là 'Le Saint des Saints' ( Một vị Thánh trên các Thánh ), Ðức Lão Tử, Ðức Khổng Phu Tử cũng thế, các vị ấy đều do nơi tiền kiếp phi phàm mà thôi, chớ các vị ấy xác tục cũng như ta, người cũng như ta, sống chết cũng như ta, đầu óc trí não cũng như ta, sống trong cảnh khổ não cũng như ta.
        Bần Ðạo ước mong các con cái Ðức Chí Tôn hiểu đặng các điều chơn thật ấy đặng Tu, cố gắng làm sao cho phi phàm, làm sao dòm tánh đức của Ðức Chí Tôn thế nào? Học đòi cho đặng Huệ Quang của Ngài ban cho thì trí não ta mới thông suốt như Ngài đặng. Trước kia, Ðức Phật Thích Ca đã thành Phật đặng thì chúng ta cũng thành Phật đặng, chính Ngài làm bằng chứng lẽ ấy. Bần Ðạo mong mỏi cả con cái Ðức Chí Tôn cố gắng học đòi như Ngài đặng thành Phật như Ngài vậy. (Thuyết Ðạo QV / tr 153)
            2. ẢNH HƯỞNG TRIẾT LÝ ĐẠO GIÁO CỦA ĐỨC THÁI THƯỢNG LÃO TỔ
A. Bí truyền của Ngài để nơi tinh thần luyện khí cốt yếu là đạt đặng nguyên tử lực vào con người.
        Các nhà học thức đã tìm, đã đạt huyền vi bí mật và năng lực của cơ thể tạo đoan mà đào luyện kiếp sanh hôm nay, có lẽ chúng ta tưởng đã đi đến một đặc điểm khá cao. Bần Ðạo nói thời kỳ nguyên tử, nhơn loại đã đạt đặng do sự xu hướng đặc biệt huyền vi bí mật dòm bên kia huyền năng tạo đoan cũng khá nhiều. Nhưng chỉ có một điều là đạt được cái năng lực của cơ thể tạo đoan ấy thay vì để phục vụ nhơn loại với đạo đức nhơn nghĩa, trái ngược lại cả tài tình của họ đào luyện thâu hoạch quyền lực, cơ tạo đoan của nhơn loại nắm trong tay là để làm một cái lợi khí tiêu diệt nhơn loại. Thật vậy, nguyên tử lực của các nhà học thức bác sĩ, bác vật đã đạt đặng, Ðức Thái Thượng Nguơn Thủy đã biết nó trước, duy có một điều vi chủ hướng của Ngài bảo tồn sanh mạng con người chớ Ngài không tiêu diệt người như ngày nay… Bí mật của sự luyện khí là do đó, điều Ngài biết đã chính mình thâu hoạch được trước 2.500 năm. Ngài tưởng năng lực ấy để bảo vệ nguyên linh ta thắng được phản lực của hình thể ta, tinh thần ta vi chủ kiếp sống của chúng ta.
        Hại thay ! những nhà truyền giáo tưởng đã đủ năng lực bảo vệ sanh mạng loài người bằng triết lý cao siêu ấy. Trái ngược lại, ta thấy những nhà hành đạo truyền giáo họ thúc giục tương tranh, tương đấu nhau vào đường chiến trận mà thôi. Ta thấy lịch sử lưu lại triết lý Tiên Gia chỉ giục loạn chớ không trị bình đặng. Ngày giờ nào nhơn loại biết chỗ chơn thật của triết lý ấy thấu triệt đặng phụng sự nhơn loại với cái trí hóa khôn ngoan trong năng lực của Ngài thì ngày giờ ấy nhơn loại mới hưởng được đặc ân của Ngài đã để nơi mặt thế nầy. (Thuyết Ðạo QIII / tr 76)
C. Quyền năng Tiên Giáo
        Có bốn Nguyên Linh yếu trọng giúp Ðức Chí Tôn khi Ngài đã đoạt định thành hình. Mỗi Chơn Linh giúp Ðức Chí Tôn và Phật Mẫu tạo ra càn khôn vũ trụ hữu hình nầy :
1. Ðứng đầu hơn hết là khối Thái Cực, nó dùng tiếng đầu tiên là Ðức Thái Thượng Lão Quân đó vậy. Khi Thái Thượng đã nguội, vật đã xuất hiện.
2. Ðấng thứ nhì là nước tức nhiên là Ðức Thái Thượng Nguơn Thủy
3. Khi tượng hình, đã có khí Sanh Quang bao trùm càn khôn vũ trụ đặng biến sanh vạn vật, là Hộ Pháp đó.
4. Khi đất nguội thì trái địa cầu nảy sanh ra, đất là Thông Thiên Giáo Chủ đó vậy.
Bốn Chơn Linh đã giúp cho Ðức Chí Tôn và Phật Mẫu tạo cơ quan hữu hình của càn khôn vũ trụ. Tinh ba của nó đặc sắc.
 Ðức Thái Thượng, Nguyên Linh của Ngài tối yếu tối trọng là cái huyền vi bí mật tạo đoan vô đoán của loài vật, muôn vật ở càn khôn vũ trụ nầy tức nhiên là nguyên căn sản xuất vạn linh đó vậy.
Còn Ðức Thông Thiên Giáo Chủ, nguyên căn sản xuất hình thù của vạn linh.
 Một là Nguyên Linh, hai là vật. Ðức Thái Thượng vốn là Nguyên Linh tức nhiên là THẦN, nếu chúng ta nói rõ hơn nữa Ðức Thái Thượng vốn là Thiên Lương, tức nhiên TÂM, của đời đã đặt tên. Ðức Thông Thiên Giáo Chủ là VẬT,
cái thuyết mà chúng ta đã ngó thấy.
        Bây giờ các nền tôn giáo cũng thế, cơ quan hữu hình tại mặt địa cầu nầy cũng thế; có hai quyền năng tương đương nhau: một là tâm, hai là vật; một là Trời, hai là thú. Tương đương với nhau, cái thuyết duy tâm và duy vật chẳng phải buổi nầy mà thôi.
        Cơ quan Tạo Ðoan Thiêng Liêng thế nào mới nảy sanh càn khôn vũ trụ đã có trong Phong Thần; là một áng văn về Ðạo Giáo đã minh tả Ðức Thái Thượng, Ðức Nguơn Thủy và Ðức Thông Thiên Giáo Chủ trước đã được một đặc ân thọ giáo ngay với Ðức Hồng Quân Lão Tổ tức là Ðức Chí Tôn đó vậy. (Thuyết Ðạo QIII tái bản / tr13)
c. Thuyết Nhân Nghĩa
Nhắc lại thầy Mạnh Tử khi qua yết kiến Vua nước Lương, ông Huệ Vương hỏi Ðức Mạnh Tử:
- Lão già chẳng nệ đường xa muôn dặm sang đến nước quả nhân, có chỉ giáo điều chi hữu lợi chăng ?
Thầy Mạnh Tử đáp rằng :
- Tôi chỉ biết nói đến nhơn nghĩa mà thôi chớ không nói về lợi. Nếu trong nước mà dục vọng về sở lợi thì đình thần có trăm hộc lại muốn có thêm ngàn hộc; thượng hạ đại phu có ngàn hộc lại muốn có muôn hộc; còn vì Thiên Tử đã có dư muôn hộc lại muốn có thêm triệu hộc. Nếu trong nước mà cầu lợi như thế thì bá tánh phải chịu lao lung, muôn dân đồ thán, trong nước thế nào bình trị được? Còn như trong nước biết chú trọng đạo nhơn nghĩa thì toàn thể quốc dân đặng chung hưởng mọi điều hạnh phúc,
lạc nghiệp âu ca.
Thầy Mạnh Tử thuyết minh đủ mọi điều lợi hại rồi thì Vua Huệ Vương chịu nạp dụng.
Hiện nay là buổi kim tiền, ưu thắng liệt bại, mạnh đặng yếu thua, khôn còn dại mất, con người trên mặt thế đều bôn xu theo quyền lợi chẳng kể gì nhơn nghĩa đạo đức, tinh thần nên mới có nạn chiến tranh tương tàn, đồng chủng giết hại lẫn nhau. Hằng ngày diễn ra nhiều tấn tuồng thảm thương, bi kịch xem thôi mỏi mắt, nghe đã nhàm tai, khiến cho giọt lụy thương tâm của khách ưu thời mẫn thế không thể nào ngưng được.
Chức Sắc trong Ðạo đem hột giống nhơn nghĩa gieo khắp các nơi mà nhơn sanh không ưng nạp, bởi họ không biết cái năng lực của họ mạnh mẽ thế nào, không cần để ý đến, chớ chi họ trọng dụng đạo nhơn nghĩa thử một thời gian coi có hiệu quả gì chăng? Nhắc lại lời Thánh Giáo của Ðức Chí Tôn có dạy về chữ Nhơn :
Nhơn là đầu hết các hành tàng,
Cũng bởi vì nhơn dân hóa quan.
Dân trí có nhơn nhà nước trị,
Nước nhà nhơn thiệt một cơ quan.
Ngày nào toàn thể quốc dân mà biết thực hành hai chữ nhơn nghĩa cho ra chơn tướng thì chẳng luận là xã hội nào cũng được hưởng mọi điều hạnh phúc, đời chiến tranh sẽ trở nên thái bình an cư lạc nghiệp .(Thuyết Ðạo QI / tr 15)
 3. TRIẾT LÝ ĐẠO KHỔNG
            Ðức Chí Tôn đến lấy chơn tướng Nho Tông đặng chuyển thế. Vì cớ cho nên triết lý của Ðạo Cao Ðài là Nho Tông chuyển thế.
        Ðức Khổng Phu Tử giáng sanh buổi Ðông Châu Liệt Quốc, chúng ta dư hiểu từ thử đến giờ chưa có một quốc gia nào hổn loạn hơn là Ðông Châu Liệt Quốc buổi nọ…Ðức Khổng Phu Tử đã sanh ra trong cái thời kỳ hổn loạn ấy, vì cớ nên Ngài mới tìm một phương pháp để cứu nước, cứu toàn sanh mạng của giống dân Trung Hoa của Ngài cho còn tồn tại, chớ không thì tấn tuồng tương tàn tương sát ấy không thế nào dứt được.
        Vì cớ cho nên Ðức Chí Tôn đã nói: Hễ chúng ta sống một ngày thì hay một ngày, chớ chẳng hề khi nào chúng ta cãi đặng khuôn luật thiên nhiên của Tạo Hóa được. Ví như muốn cứu vãn, muốn thức tỉnh các nước như Ðông Châu Liêt Quốc buổi nọ, Bần Ðạo xin nói: Phải giữ gìn phương pháp đạo đức thì mới có thể làm dứt được cái nạn nồi da xáo thịt của nước Trung Hoa. Vì vậy nên Đức Khổng Phu Tử mới đem Ðạo Nhơn Luân của con người ra làm căn bản. Bởi cớ cho nên Ngài chỉ tìm một phương pháp là Nhơn Ðạo để cứu vãn tình thế dân Trung Quốc. Ấy vậy, cái thuyết bảo vệ Nhơn Luân Chi Ðạo của Ngài đó, chúng ta đã hiểu như thế. Ðức Chí Tôn đến đặng đem Thượng Nguơn Tứ Chuyển và tinh thần đạo đức để làm căn bản, nhưng hiện giờ đạo đức tinh thần của nhơn loại không còn như thời Thượng Cổ nữa. Chúng ta có thể nói theo Tiên nho rằng:
Cổ nhơn hình tợ thú, tâm hữu đại Thánh Ðức,
  kiến nhơn biếu tợ nhơn, thú tâm an khả trắc.
Tất cả nhơn quần xã hội trong thời văn minh nầy họ hay hỏi lắm, họ làm tinh thần trí não của chúng ta thêm rối, tiếc có một điều Thánh Ðức của họ không có. Hại thay! Họ không cần Thánh Ðức thì tức nhiên cái sống của họ không phương nào bảo vệ được Ðạo Nhơn Luân của họ. Nếu bảo vệ không được Ðạo Nhơn Luân, tức nhiên họ xu hướng theo vật hình thú tánh mà thôi.
Họ sống theo vật hình, theo thú tánh thì ngoài ra không biết gì hết, như thế Thánh Ðức không còn giá trị gì nữa. Nhơn loại đã ly loạn, Ðạo Nhơn Luân nó đi đảo ngược con đường Thánh Ðức. Bởi cớ cho nên Ðức Chí Tôn đến lấy Nho Tông trước kia làm căn bản, Ðức Khổng Phu Tử đã cứu vãn tình thế nước Trung Hoa thế nào thì ngày nay Ðức Chí Tôn đến cứu vãn nhơn loại với phương pháp ấy. (Thuyết Ðạo QV / tr 77)
4. NHO TÔNG CHUYỂN THẾ
           A. THUYẾT TRỜI & NGƯỜI ĐỒNG TRỊ
             Trong buổi nọ nước Trung Hoa thống trị một đại cường quốc chỉ lấy tinh thần làm căn bản vĩ đại trị vì thiên hạ thái bình; giờ phút nầy đeo đuổi theo nền văn minh tối tân mà chúng ta gọi là nền văn minh hóa học, chỉ biết tương tranh mà sống, lấy mạnh làm căn bản, tức nhiên lấy gươm đao làm phương trị thế. Hai cái phương pháp, hai cái hành tàng ấy để trước mắt nhơn loại đều thấy rõ phương nào hay, phương nào dở, nên hay hư, một nền văn minh vĩ đại vi trị tức nhiên thiên hạ và thiên thượng đồng trị. Cái làm cho chúng ta cảm kích hơn hết, tấn tuồng đã diễn ra đây chưa có định quyết ngày giờ nào chấm dứt. Tội nghiệp thay cho Trung Hoa làm chủ một nền văn minh dường ấy,
nắm trong tay một mãnh lực phi thường mà hôm nay phải chịu nạn tương tàn tương sát dường ấy.
        Bần Ðạo đến Kiêm Biên có gặp một vị võ quan tức nhiên là quan sáu Des Basaords, Ngài hỏi một điều lạ thường là Ðức Khổng Phu Tử sanh trước Ðức Chúa Jésus Christ 500 năm, Mohamed sanh sau Ðức Chúa Jesus-Christ 500 năm, Ngài vừa nói đến đây Bần Ðạo liền chú ý đến ba người ấy tương lai cũng như một, bởi thuyết Trời Người đồng trị của họ đó vậy. Bần Ðạo liền nói: Ba người ấy cách biệt nhau 500 năm mà ba người vẫn như một. Ông lại cười, ông hiểu Bần Ðạo đã quan sát tấn tuồng triết lý của ba nền Tôn Giáo ấy. Trời Người đồng trị phải chớ! Nếu không vậy, sự sống chết còn mất của nhơn loại phải làm sao, hành tàng của họ tồn tại hay chăng? trường cửu hay chăng? Hay nạn tiêu diệt hầu đến, ấy là vấn đề trị nước đến giờ vẫn để trong óc các nhà đại tư tưởng của nhơn loại. Chúng ta đã ngó thấy có trường tranh sống để quên cái chết, lại có cái trường tưởng cái chết quên cái sống, hai lẽ bất đồng.
        Hại thay cho nhơn loại, nếu toàn thể nhơn loại đều hưởng cái triết lý vô đối trung dung đạo đức của Khổng Phu Tử để lại thì mạng căn kiếp số của nhơn loại chưa đến mức nguy hiểm, chưa đến mức hại tương lai họ, không biết chừng đưa đẩy họ không đến nạn diệt vong mà chớ! Ðương nhiên bây giờ có hai triết lý oái oăm:
        - Một đàng nói tôi chủ về phần xác đây, tôi biết sống chớ không biết chết, duy có cái tranh sống hay ăn thịt,
hay giết người để thay thân.
        - Một đàng nói bỏ phế kiếp sống thân hình nầy không đáng kể, chỉ trọng linh hồn mà thôi.
        Hai đàng đều quá khích, biểu sao không có trường tranh đấu náo nhiệt về tinh thần và hình thể nơi mặt địa cầu nầy. Vì sự tranh đấu ấy mà nhơn loại xáo trộn không biết theo bóng nào để nương thân cho tồn tại… Dầu các người mạnh thì các người sống với phương pháp mạnh, yếu sống với phương pháp yếu mà cái sống ấy các người chưa có làm chủ được, cái sống tạm nầy chưa có cái sống thiệt.
Cái sống thiệt là sống có nguồn cội, cái sống chủ quyền, cái sống đó là cái sống trong tay Ðấng Tạo Ðoan mà ra. Cái sống nầy mới là thiệt, cái sống các người không có bảo trọng được, không có vi chủ; tức nhiên phải nhìn Ông Trời có quyền trị về phần xác thịt và linh hồn của chúng ta nữa…Ta phải tranh đấu, giựt giành cái sống của cả thảy đặng làm cái sống của mình; khi ta chết nó sẽ ra con vật mà thôi không có nghĩa lý gì. Nếu ta nói vậy thì ta không có tin ai, nếu ta tin có số hay chăng là sợ Ðấng nầy, Ðấng có thể tiêu diệt cả hình thể và linh hồn sa đọa nơi địa ngục mới sợ, nếu biết sợ mới giữ được, không thì trường tranh sống mãi tiếp diễn…   
                                                           (Thuyết Ðạo QIII / trang 79)
          B. TINH BA CỦA NHO TÔNG
             Thế Ðạo của Ðạo Cao Ðài là Nho Tông chuyển thế, mà Nho Tông tức nhiên Ðạo của Tổ Phụ chúng ta từ ngàn xưa để lại. Ấy vậy những yếu lý của Nho Tông mới có thể làm mực thước mà định chuẩn thằng trong khuôn khổ cái sống đương nhiên của mình đặng. Chúng ta đã thấy Nho Tông của chúng ta là một nền tôn giáo xã hội, cái đặc điểm của nó là Ðức Chí Tôn đến lập trường Nho Tông trị thế. Ấy vậy tinh ba của Nho Tông là gì? Phải chăng cái chiến thuật của nó là  “Tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ”, cái tôn chỉ cao thượng của Ðức Mạnh Tử là 'Ðại học chi Ðạo tại minh minh đức, tại Tân Dân, tại chỉ ư chí thiện.'
        Bây giờ xin cả toàn thể con cái Ðức Chí Tôn từ từ nghe Bần Ðạo thuyết chữ 'Tu Thân' trước : Từ Thượng Cổ tới giờ Ðức Thánh Nhơn lấy hai chữ Tu Thân làm căn bản, hai chữ tu thân đã có từ lâu, nếu chúng ta xem lịch sử của Nho Tông thấy nó đã xuất hiện từ Ðức Huỳnh Ðế có trên không biết mấy ngàn thế kỷ, trước Chúa giáng sanh. Ấy vậy nó là tối cổ, cái phương pháp tu thân dầu thời đại nào cũng có, cái chí hướng của các tôn giáo là phải tu thân lấy mình,
dầu cá nhân dầu xã hội hay toàn thể nhơn loại cũng vậy.
        Cái tâm đức của con người bao giờ cũng có mâu thuẩn: hễ họ nghe thấy điều nào hay điều nào thiện đặng họ biết nhìn một cách chơn thật nhưng mà họ không có làm, còn biết chê cái dở cái ác mà họ lại làm. Hai cái đó nghịch cảnh với cái Tâm, không có một vị Thánh nào ở thế gian nầy tìm nguyên lý nó cho đặng..
        Bởi vậy cái tâm lý của con người họ hay xu ác mà xa thiện, vì cớ cho nên các vị Giáo chủ lập nền tôn giáo dạy phải làm thế nào gọi là tu thân, dầu cá nhân hay toàn thể nhơn loại cũng phải lấy hai chữ tu thân làm gốc.
        Bần Ðạo đã nói, nó khởi đường lập đức là tại minh minh đức. Hại thay! Nơi thế gian họ đã hiểu như thế mà họ không kể đức, họ không lập đức, hỏi vậy thành Ðạo làm sao được? Cái đức ấy thiên hạ chỉ ngó mịt mịt mờ mờ nhưng họ đâu có biết rằng nó vô hình, vô ảnh mà huyền năng của nó không ai đảm đương được. Ðã tạo lập cái đức ấy phải trọn tâm làm một mới có thể thiên hạ kính trọng. Nhờ tâm đức ấy chúng ta mới có thể coi cả huyền vi của họ được. ..Bây giờ chúng ta đã ngó thấy từ thượng cổ đến giờ dầu cho từ hàng lê thứ dĩ chí đến bực đế vương muốn lập vị mình cũng phải nương theo cái đức ấy. Nếu chúng ta thấy họ còn dùng cái đức ở chỗ hèn hạ bao nhiêu thì không bao giờ giữ cái đức ấy còn tồn tại đặng rồi đến cái ngày bỏ đức của họ, trở lại dùng bạo tàn như Sở Bá Vương, như Tần Thủy Hoàng thì dầu cho cơ nghiệp họ có bền chắc bao nhiêu cũng phải xiêu đổ...
        Bởi cái thuyết lập đức người ta đã ham làm mà làm không được, nên cái giá trị của Hứa Do đối với Ðức Nhan Hồi cũng tương đương với nhau. Khi Ðức Nhan Hồi đai cơm bầu nước đi giáo Ðạo đến nước Tề, Tề Vương biểu ở lại thì bực công khanh của Ngài không mất, nhưng Ngài trả lời rằng : Thần đã quen cái thú an nhàn của thần rồi. Thú an nhàn không có thể gì mà đem đổi cái giá trị công danh quyền tước đặng. Nếu Bệ Hạ muốn đổi đặng nên biết cái giá trị lập đức nó trọng hệ là thể nào. Hại thay ! Ở giữa thế gian nầy không biết mấy vị hiền nhân chí sĩ đã hiểu được cái giá trị lập đức chưa đến nên mới ra sự tôi mọi hạ tiện làm hư danh thể của mình, nếu để cái giá trị ấy lại thì không đáng giá gì hết mà phải hạ mình làm chi ? Hai ngôi vị ấy đối chọi với nhau như một trời một vực.
Ở nơi cửa Ðạo, Bần Ðạo đã đem con cái Ðức Chí Tôn và thanh niên của Ðạo đặng làm Thánh Thể tương lai của Ngài. Nếu cả thảy đều biết nỗi khổ để làm phương tu thân lập đức thì cái giá trị của thiên hạ làm dễ như ăn ớt chớ không có chi khó.
Vậy toàn thể con cái Ðức Chí Tôn và Thánh Thể của Ngài phải đem cái Ðức Thiêng Liêng ấy rải khắp thiên hạ thì chúng ta mới có thể cứu khổ được.              (Thuyết Ðạo QV / tr 115)
 5. TRIẾT LÝ TRỜI NGƯỜI ĐỒNG TRỊ
               Ðức Khổng Phu Tử, tức là Ðức Ðại Thần Chư Thánh Văn Tuyên Vương chuyển giáo Ðạo Nho. Ngài là tiền bối của Ðức Chúa Jésus Christ mà Ngài ít đặng hạnh phúc hơn Jésus Christ ; Năm trăm ( 500 ) năm về trước cái thuyết của Ngài, tâm lý nhơn loại buổi ấy chưa có nạp dụng đặng, lại nữa Ngài đến với cái danh từ một nhà triết lý mà thôi. Ngài không có hân hạnh, không có can đảm đến với danh từ con cái Ðức Chí Tôn cũng như Jésus Christ, vì cớ lý thuyết vẫn có một nhưng giáo đạo của Ngài không có hạnh phúc hơn Jésus Christ . Ngài chỉ có làm chứng rằng có một Ðấng thống trị cả càn khôn thế giái, Ðấng ấy Ngài để danh hiệu là 'Nhứt Ðại' mà thôi, tức nhiên là 'Thiên' mà Ngài không nói ra như Jésus Christ. Ngài chỉ làm chứng rằng có một Ðấng tối cao mà thôi, thất bại của Ngài là vì lẽ đó. Ðắc thế của Jésus Christ nói quả quyết nhơn loại có Ông Cha mà Ông Cha ấy là chúa tể càn khôn vũ trụ.
Nếu chúng ta biết lấy theo triết học thì chúng ta nên lấy cái gương của một nhà đại gia tư tưởng, nhà đại gia triết lý học là Descartes, người nói : ' Je pense done je suis' ( Tôi tưởng là tôi có vậy ) Con người là một động vật ở nơi mặt địa cầu nầy, chúng ta thấy nó hiện hữu phải vận hành phải xao động, bởi nó là động vật, nó phải hoạt động, nếu không hoạt động thì chết. Trong cơn đang hoạt động có hai phần đặc biệt :
        1./ Hoạt động về thi hài xác thịt, tức nhiên như thân thể chúng ta giờ phút nầy vậy, mỗi ngày chúng ta hoạt động mới có sống, bằng không hoạt động thì chết, luật tạo đoan quả nhiên vậy.
        2./ Còn cái hoạt động nữa, hoạt động vô hình chúng ta không thể thấy được mà chúng ta nhìn quả quyết có hoạt động về tinh thần trí thức. Vì cớ hai cái hoạt động của con người chia ra hai phần :
- Hoạt động về phần Ðời.
- Hoạt động về phần Ðạo.
        Là vì cái thi hài phàm tục nầy nó là con vật, nó phải hoạt động theo con vật, hoạt động theo giác thể của nó, nó chưa có biết hoạt động theo chơn linh. Vì cớ cho nên Ðức Chí Tôn tạo nên hình tướng nó, để tạo nơi mình nó Ngài còn sắp đặt một kỷ cương để cho tinh thần nó vi chủ hình hài của nó. Còn để cho thân thể nó vi chủ tâm hồn , nó sẽ ngây cuồng ngu dại, nó sẽ đi đến chỗ tự diệt  mà thôi…Chúng ta phải nhìn có một Ðấng cầm quyền trị về phần tâm hồn, trí não chúng ta. Ðấng ấy đến giờ phút nầy đến ở cùng chúng ta, nhìn chúng ta là con cái của Ngài, Ngài đến với một danh từ là Thầy của chúng ta, mà chẳng phải làm Thầy mà thôi còn làm Cha nữa. Chúng ta tưởng tượng trở lại, để tinh thần suy xét từ thử đến giờ coi các sắc dân nào trên mặt địa cầu nầy đặng hạnh phúc dường ấy chăng ?
        Hai ngàn năm về trước Ðức Khổng Phu Tử đến tạo Ðạo không đạt được thuyết quí báu cao trọng ấy, cũng do nơi duyên cớ. Chúng ta tưởng Ngài đến tình cờ, không có gì là tình cờ trên mặt địa cầu nầy hết, không phải tình cờ mà Ngài đến. Ngài đến trong đời Chiến Quốc tức nhiên trong buổi ly loạn…Thiên hạ đang chiến đấu với nhau, giành phương sống của mình, lấn quyền thế trong lục quốc phân tranh không ai nhường ai, tranh sống với nhau một cách kịch liệt Ngài mới đến. Ấy vậy Ngài đến không phải tình cờ, nếu chúng ta tưởng tình cờ thì Ðấng cầm cân Thiêng Liêng nơi cõi hư linh hằng sống chẳng có hay sao? Bằng cớ hiển nhiên là Chúa Jésus Christ  đến lập Ðạo của Ðức Chí Tôn như Ngài trong buổi loạn ly, buổi mà La Mã làm bá chủ, các sắc dân bị chinh phục quật cường chiến đấu để giải ách nô lệ của mình, buổi ấy cũng là chiến quốc vậy.
        Hai người đến không phải là tình cờ mà đến đâu, cũng một thuyết với nhau đem đạo lý cứu vãn nhơn loại. Mỗi phen nhơn loại chịu thống khổ về tâm não dường nào thì có Ðấng Từ Bi độ tận đưa tay ra cứu vớt họ luôn luôn, đặng mà cứu khổ nhơn loại, mãi mãi không bao giờ sơ sót hết.
        Nếu như không có Ðấng cầm quyền năng trị tâm lý tinh thần nhơn loại thì chưa chắc có ai làm nỗi. Cái thi hài của nhơn loại tức nhiên thân thể còn tồn tại được để quyết định tương lai của nhơn loại đương nhiên, hai cái thuyết duy tâm và duy vật, ngày giờ nào hai thuyết ấy tương hòa đặng thì chúng ta thấy cơ quan giải thoát đặng. Ngày giờ nào Trời Người hiệp một cùng nhau đồng trị với nhau tức nhiên Người trị thế, Trời trị hồn.
        Hai Ðấng cầm quyền thế gian nầy và cõi hư linh hằng sống hiệp với nhơn loại mới được hạnh phúc, tương lai mới được vững chắc và tồn tại. Bằng chẳng vậy con đường chiến đấu đặng sống của họ sẽ xô đẩy họ đến con đường tự diệt .
(Thuyết Ðạo QIII / tr 48)
6.  QUYỀN NĂNG CỦA NỀN TÔN GIÁO
              Cả chủng loại loài người và vật loại, chúng ta quan sát ngoại thể thấy loài người và vạn vật phải ở chung hiệp cùng nhau, gọi là xã hội mới sống được. Chúng ta thấy trước mặt nhiều vật loại sống đặng như ong, kiến, cũng nhờ tổ chức xã hội, giống thú mà còn biết chung hiệp từ đoàn thể tức nhiên có tinh thần xã hội. Loài người cốt yếu sống cũng phải có xã hội. Lại nữa, nếu chúng ta tìm chơn lý của Phật Giáo thì thấy Chí Tôn đã phú thác cho loài người làm chúa vạn vật. Ngài để tinh thần của loài người cao trọng, tức nhiên cho người có khối linh vĩ đại, trọng hệ hơn, đủ phương thế làm tròn trách vụ đối với vạn vật, tức Ngài định cho ta làm chủ xã hội vạn linh. Làm trách vụ tức nhiên có tinh thần cảm xúc mà cảm xúc tức nhiên sanh tình.
        Tình là luật thiên nhiên của Chí Tôn. Tình phân ra hai vở chánh, nơi cõi phàm thì có định luật giới hạn, chúng ta thấy tạo luật pháp xã hội, hiển nhiên nơi cửa Hư Linh cũng có đặc quyền, nên cũng phải có khuôn luật là Thiên Ðiều. Có nhiều vị Phật cầm vững quyền thưởng phạt ấy gọi là nhơn quả, vay trả, hễ nên thì thưởng còn hư phải thường, luật định như thế nên rất công bình chánh đáng. Vì có khuôn khổ luật pháp do quyền thiêng liêng của Chí Tôn định, bằng chẳng vậy dữ cũng ra hiền, lành cũng như ác, hỗn độn cả tinh thần của Chí Linh, tổng số không mực thước, không căn đề, không cội rễ. Ðạo cốt yếu tạo khối tình ái tâm lý của loài người, biết mình là phần tử của xã hội, phải làm điều gì cho xã hội nhờ.
        Gia đình là một phần nhỏ trong xã hội nếu biết giữ gìn thân thể, tôn trọng danh giá cha mẹ. Anh em thảng có đứa du côn không kể gia pháp, làm rối loạn gia đình thì kẻ đó ai cũng muốn bỏ, muốn đưa ra khỏi gia đình tông tổ… Càn Khôn là đại gia đình, cửa Ðạo cũng vậy, xã hội cũng vậy, là một gia đình có cha mẹ, bà con, như một tông tộc vậy. Lớn hơn gia đình là một quốc gia, là một gia đình lớn, gồm cả các gia đình tổng hợp lại, chìu theo một khuôn luật do quyền năng của Ðạo giáo tức Ðại gia đình. Con người sanh ra phải biết trách vụ của mình, trong tiểu gia đình hay đại gia đình cũng vậy. Người ở gia đình chỉ xưng mình là con, vì cớ Jésus Christ chỉ xưng mình là con của Người ( Le fils de l’home ). Ôi ! chỉ làm người mà được thành nhơn thì hiểu giá trị của nó thế nào? Văn minh Nho Giáo hiểu giá trị làm người ấy khó khăn lắm, khó mà minh biện được :
Vi nhơn nan, vi nhơn nan' ( làm người khó, làm người khó ).
Tố tố vi nhơn nan (làm người rất nên khó ).
Mong làm người cho xứng đáng là người trong gia đình là khó khăn lắm, mà hễ làm người để dìu đỡ được gia đình tức là chúa gia đình đó. Mình là người mà nâng đỡ được quốc vận là chúa của quốc gia. Giờ ta thử hỏi : một nền tôn giáo đem tâm lý loài người hiệp một lại là một điều đứng trên cái mức đại gia đình đó. Làm người chủ xứng đáng của gia đình đã là khó, làm người chủ xứng đáng của quốc gia lại càng khó, rồi làm người chủ xứng đáng của một nền tôn giáo không phải dễ.
Hễ làm chủ được xứng đáng, thì đối với nhơn quả, ta chỉ có nhơn mà không còn quả nữa.
 Người đã đem thân nầy ra làm chúa gia đình, không còn là mình nữa mà là bậc tiền bối; người đáng là người chủ của một nước là bực Thánh nhơn, người đáng là người chủ một tôn giáo ấy là vị Phật.
        Ấy vậy, chúng ta muốn quan sát một tôn giáo nào được gọi là chánh giáo, thì tôn giáo đó phải đủ yếu điểm tạo nên người chủ của nó đặng dìu đỡ các phần tử của Ðạo ấy, đủ hạnh kiểm, đủ quyền năng. Phải cao thượng hơn sự thường tình, đi cho vững trên con đường hằng sống mới xứng đáng là chủ của Ðại gia đình càn khôn võ trụ. Cả phương pháp không mực thước, quyền hành để đạt đến địa vị chúa một tôn giáo thì không phải chánh đạo…Thể pháp của Ðạo Cao Ðài có khuôn khổ tập cho nhơn loại đi đến mục đích trong luật pháp của một nền chánh giáo.   (Thuyết Ðạo QII / tr 17)
7. ĐẠI HÙNG, ĐẠI LỰC, ĐẠI TỪ BI
            Triết lý nhà Phật từ tạo Thiên lập Ðịa đến giờ đã tạo ra biết bao nhiêu Ðấng đã thừa hành mạng lịnh Phật giáo đang hành hóa chúng sanh nơi mặt thế gian nầy, nếu không có tánh đức ấy chẳng hề khi nào lập giáo đặng.
        Ðại lực, câu ấy có lẽ để một phương ngôn luận, công lý của một mối Ðạo mình tu, phải có một đức tin hùng dũng mới đặng. Bần Ðạo nói,
            nếu không có tánh đức hùng dũng chẳng hề khi nào thắng khảo đảo đặng.
        Cả thảy con cái của Ðức Chí Tôn đều biết từ ngày mở Ðạo đến giờ, một trường khảo đảo kịch liệt; từ ngày Ðạo mới phôi thay đến giờ, nếu không có tinh thần hùng dũng của con cái Ðức Chí Tôn cương quyết lập Ðạo cho thành, Cương quyết phải thắng' vì tổng số cả tinh thần hùng dũng của con cái Ðức Chí Tôn, nên ngày nay nền Ðạo mới ra thiệt tướng như vậy…Quan sát từ buổi thô sơ triết lý do những điều Ðức Chí Tôn tìm Chánh Lý, Ngài đến cầm cây viết Thiêng Liêng lựa chọn đem vô Thánh Thể của Ngài, những kẻ ấy thất Ðạo vì nguyên do buổi trước,  không theo dõi bước Thiêng Liêng của Ðức Chí Tôn là do nhút nhát sợ sệt, bạc nhược, sợ cường quyền, sợ luật đối phương mãnh liệt. Họ chưa có chí hùng dũng quyết tranh đấu quyết thắng nên họ thất Ðạo, cái thất Ðạo của họ là thiếu chí hùng dũng, là tại nơi họ nhút nhát, bạc nhược. Tinh thần hùng dũng chẳng phải nơi cửa Ðạo mà thôi, ngoài đời cũng vậy. Bậc vĩ nhân đã tạo thời cải thế từ thượng cổ đến giờ, nếu không có tinh thần hùng dũng thì phải bị làn sóng đời lôi cuốn như một dề bèo trôi giữa dòng sông kia vậy.
        Ðức Thích Ca đã làm được, khi Ngài đạt vị, Quốc Vương trị an thiên hạ nơi ấy là cha của Ngài bắt tội Ngài bỏ nhà đi tu là bất hiếu. Nếu làm con như kẻ thường tình trở về nói đi tìm Ðạo chắc Ngài không nở bắt tội, mà ông cha cốt yếu muốn thấy Phật nên mới làm như vậy mà thôi. Ngài truyền cho thiên hạ biết, nếu gặp Ðức Phật Thích Ca thì bắt đem về cho Ngài lên án tử hình.Chừng Ngài nghe nói lên án tử hình ấy, Ðức Thích Ca liền ra chịu án tử hình. Ngài nói: án tử hình ấy để một mình con xin chịu mà thôi, còn tín đồ của con xin cha tha thứ để cho nó tu.
Nếu không có tinh thần hùng dũng chưa ai làm được như Phật Thích Ca vậy.
        Nói một chí khí hùng dũng về tinh thần của Ðức Lão Tử, từ hồi ở nơi Thơ Viện nhà Châu bị đuổi, lên xe trâu mà về Côn Lôn Sơn, đi thì có một manh áo, một con trâu ra khỏi dinh nhà Châu. Nếu không có chí hùng dũng chưa dễ gì đang làm một vị đại quan Triều Nhà Châu mà từ nơi dinh nhà Châu ra đi chỉ có một manh áo với một con trâu mà về Côn Lôn Sơn đặng.
        Ðức Khổng Phu Tử đã châu lưu lục quốc bất kỳ nơi nào cũng bị thiên hạ biếm nhẽ, chê bai, bắt dọa cho đến lúc trở về nước Lỗ, khi về Ngài còn cần cù dạy học trò. Ngài làm quan đến bực Tể Tướng và làm quan đến chức Gián Nghị Ðại Phu mà vẫn còn cần cù dạy học. Nếu Ngài không có chí hùng dũng thì không thể gì làm như vậy đặng.
        Như Ðức Chúa Jésus Christ khi Ngài đã chết trên cây Thánh Giá, chúng đóng đinh trên cây Thánh Giá mà quân vô đạo đứng dưới cây Thánh Giá kêu Ngài nhiếc mắng Ngài, nói Ngài là con Ðức Chúa Trời quyền năng vô biên cứu cả thiên hạ đặng, đâu người cứu thử người trước coi, người làm sao xuống đặng bốn cây đinh đóng hai tay hai chân của người đó coi. Ngài chỉ ngó lên Trời cầu nguyện : Thưa Cha, xin Cha tha tội tình cho chúng nó, vì chúng nó chưa biết lỗi lầm của chúng nó. Nếu Chúa không có chí hùng dũng thì chưa có tinh thần ấy.
        Mohamed lập ra Ðạo Hồi Hồi bị xô đuổi, bị bắt nhốt khám trốn chui, trốn nhủi mà không buổi nào thất chí….
        Còn nhiều phương nữa nếu không có chí hùng dũng, có đại lực thì chưa làm được. Hùng dũng được, tức nhiên theo lẽ phải, có hùng có lực phải từ bi. Nếu muốn vào hàng Thánh Ðức phải đi ngang qua cửa từ bi. Hễ Ðạo có hành tàng thì lấy từ bi làm căn bản, còn hung tàn thì đi theo cái hung, tức báo đời chớ không phải cứu đời. Các nhà đạo giáo đi đến cửa mà vô không đặng thì trở qua tả đạo bàng môn; còn đi thuận chiều thì là đại từ bi, qua được tức nhiên theo chiều của Ðức Chí Tôn mà đôi khi còn đi qua thiên lý, thiên số và thiên tánh tức nhiên là chơn tánh, tức là chơn đạo. Nếu chơn đạo không biết giữ thì đại hùng đại lực sẽ biến thành đại ác tả đạo bàng môn.
        Kết luận, cả con cái Chí Tôn thấy một trường hợp nào bất chánh thì quan sát cái trạng thái của nền chánh giáo Ðức Chí Tôn đã cho hay trước. Nó có đại hùng đại lực rồi nó phải đi trong con đường đại từ bi. Coi chừng có đường nào đi qua đại ác của nó, cả thảy đều đứng lên làm một bức tường thiên nhiên gây thành một bức tường huyền diệu của Ðức Chí Tôn đặng cản ngăn che cho Ngài, cái nền tôn giáo của Ngài đừng cho đi vào đường đại ác.
      Tương lai thay đổi, phải mở con mắt Thiêng Liêng, lấy tinh thần toàn thể, dầu chức sắc Thiên Phong hay tín đồ cũng vậy, con mắt phải mở. Con mắt ấy là Huệ Nhãn phải mở cho rõ ràng minh mẫn đặng coi chừng thay đổi; nền chánh giáo của Ðức Chí Tôn vĩnh cửu trường tồn, đừng để ngày sau đổ sụp mà ân hận  (Thuyết Ðạo QII / tr163)

Sứ mạng Đại Đồng

BỘ PHẬN TỨ HUỆ LINH THÔNG
CƠ GIÁO TRƯỜNG SIÊU NHIÊN      
Dậu thời, ngày 29/ 02 Tân Mão( 02 / 04 / 2011 )
Thi
Cửu hồi thông lý ĐạoHư Vô,
Nương điển Diêu Cung báo Mẫu Từ.
Diêu cảnh sáng soi nguồn tuệ giác
Trì Cung tỏ rạng điểm ân dư.
Cửu Nương Diêu Trì Cung ngự bút pháp linh thông chào mừng toàn đẳng
căn cơ duyên giác sứ mạng Đại Đồng. Vậy thành tâm kỉnh lễ tiếp Đấng Từ
Mẫu hạ giá xe loan. Chào Thăng./.
 Tiếp Điển
                    Thi
Diêu Đài Mẹ giáng ngự giờ thanh,
Trì điểm tâm minh chứng dạ thành.
Kim khuyết huệ từ con nhiếp thọ,
Mẫu ban huyền diệu nhuận ân lành.
                   *****
Đài chương Vô vạn sắc hồng khai,
Tỏ rạng Cực kỳ lý diệu đài.
Minh đức Từ linh tâm ứng ngộ,
Minh tâm Tôn Mẫu chuyển siêu ngai.
                 Thi Bài
Chơn Lý Đạo tỏ tường ân tứ,
Điểm kỳ công thông ngự tâm thần;
Đạt thành ánh tỏa kim ngân,
Linh thông khai xuất, huệ thần hòa minh.
Vì cơ cuộc Thiên Đình hội chiếu,
Thông Tam Tòa ra hiệu khởi hành;
Cho Đoàn Sứ Mạng Nguyên Sanh,
Gắn liền tiếp nối vận hành giao lưu.
Thông máy điển khởi từ  Nam Việt,
Thấu huyền cơ từ Triết Đồ Thơ;
 Cội nguồn Quốc Đạo bến bờ,
Lập thành đầy đủ Thiên Thơ định bày.
Nguyên Lý Đạo triển khai cho đúng,
Diệu Luật ân làm chuẩn hài hòa;
Tạo thành ý nghĩa sâu xa,
Bến bờ giác huệ chính là chơn tâm.
Ngày Liên Giao đang mầm nở rộ,
Buổi Hội Đoàn làm chỗ sáng ngời;
Mà chung phục vụ Đạo Đời
Mà làm ý nghĩa Đất Trời Âm Dương.
Đời đảm nhiệm con đường xây dựng,
Đạo thọ hành đúng chuẩn lý quy;
Đại Đồng thông tất cơ kỳ,
Chân Nguyên hiển đạt những gì điểm công.
Tình Đại Đạo mênh mông vô tận,
Lý Đại Đồng thông nhận muôn trùng;
Không phân diệu diệu thanh trung,
Không màng sắc thể khắp cùng nhân sanh.
Giờ điểm lại đàn anh sứ mạng,
Phút kiểm trang từng áng văn chương;
Tài hiền kết tựu soi gương,
Việc chung lo liệu hướng dương tiến trình.
Kiểm điểm Đạo màu thanh Thiên Điển,
Nghiệm duyên Đời màu biển Địa Linh;
Rồng chầu phụng múa Cung Đình,
Tiếp phần Thánh Đức cung dinh Giáo Quyền.
Xem kim cổ Sử tiền nhân để,
Xét cụ tân lưu thể tài danh;
Cũng so sánh việc nguồn lành,
Giống dân Hồng Lạc Mẹ dành Trung Ương.
Xem Bốn Bể  như gương chiếu chỉ,
Nhận Năm Châu tợ lý thừa ban
Khắp nơi đồng thọ Ân vàng,
Khắp nơi tìm sự an nhàn thọ Chương.
Tìm  đến bến Siêu thường, Siêu lý,
Nghiệm  nơi bờ tuyệt quý Huỳnh Trung;
Mới hay có đủ tài hùng,
Năm Châu bốn biển tập trung nhân tài.
Giờ đã điểm nếu ai lần lựa,
Gặp biến thiên xem hứa hay chăng;
Lập thành công sức tài năng,
Góp phần cho kịp, ví bằng ngọc châu.
Vì nơi có Thượng Lầu Di Lạc,
Vì nơi từng gieo hạt tình thương;
Nơi Thầy Chúa Tể đảm đương,
Lập cơ Nguyên Lý, mở trường Siêu Nhiên.
Cơ huyền diệu Thần Tiên lãnh lịnh,
Thường trực nơi Thiên định, Thiên ban;
Hữu vô kết hợp để làm,
Vừa làm vừa được kiểm trang từng phần.
Phổ Lạc con ! Mẹ phân lời điểm,
Phải kiên trì thực hiện cho tinh;
Vì con lãnh nhiệm Thiên Đình,
Vì nguồn Tứ Huệ thông linh dạy kèm.
Sự dắt dẫn con đem tâm quyết,
Không phải bằng đem thuyết mỗi bài;
Cũng không vì chỗ đơn sai,
Của người đi trước mà nay sửa dời.
Càng sửa đổi ý lời thuở trước,
Càng bận tâm, lệ thuộc tâm mình;
Cũng không vì chỗ điển hình,
Phải làm mất sự thâm tình đàn anh.
Mẹ dạy con Đạo thành do bởi,
Giữ gương lành không gợi chuyện phiền;
Phiền người, người chẳng giác duyên,
Phiền mình, mình chẳng giữ thiền vẹn y.
Đạo thành cũng chẳng vì lo ngại,
Ngại chuyện đời làm sái, làm riêng,;
Ngại người giữ Đạo không chuyên,
Bởi vì chữ ngại giữ Thiền vơi hao.
Mà đạt Đạo do trau Tâm Pháp,
Đem tình thương hòa ráp Đồ Thơ;
Đem lòng bác ái chỉ bờ,
Giảng bày Nguyên Lý, Đơn Thơ, Thiên Đồ.
Đạo thành do tự nhờ xem lại,
Xem lại mình, chẳng phải xem người;
Đạo thành cũng phải từ từ,
Tình thương phổ biến, tệ người chẳng chi.
Đạo thành bởi Lý quy màu sắc,
Đạo thành do Tâm đắc tịnh thanh;
Tịnh thanh kết hợp chí thành,
Càng thêm ngời tỏ gương lành sáng trong.
Bát Quái Đồ Thiên trồng ra sách,
Không cần nêu cần vạch chữ phiền;
Giảng bài, kỹ thuật ưu tiên,
Do phần Tứ Huệ gắn liền từ đây.
Từng bước tiến đủ đầy thực hiện,
Giảng không cần bày biện sách nhiều;
Chỉ đem tâm ý tiếp chiêu,
Tùy duyên mà giảng, tùy chiều mà phân.
Đạo Hoành con ! tinh thần hành Đạo,
Thật sáng trong hoài bảo Cơ Đồ;
 Làm gương sự chuyển điểm tô,
 Làm sao cho rạng  bến bờ Cội Nguyên.
Đời có lý  đầu tiên từ Đạo,
Đạo có tình khai giáo từ Cha,
Tổ Tiên Chính Giáo là nhà,
Cho chung dòng giống gọi là Rồng Tiên.
Rồng Tiên chẳng phải riêng Đất Việt,
Mà thông nguồn liền tiếp Cửu Long;
Đại Đồng khởi điểm Thành Long
Nhưng mà hiển hóa từ giòng Hạo Nhiên.
Nay chọn điểm khởi duyên Nguyên Lý,
Lập Văn Phòng thông nghị các nơi,;
Thay cho trung điểm Tổ Trời,
Tổ Tiên Chính Giáo Đạo Đời giao lưu.
Điện Quốc Tổ cũng từ trách nhiệm,
Cơ Tổ Tiên làm chuyện nầy dây;
Hội Trường Đời Đạo nơi nầy,
Đúng như Thánh lịnh trước đây ban truyền.
Trách nhiệm con gắn liền nội ngoại,
Để thông về, để tải vang xa;
Trung tâm huyết mạch cũng là,
Nguồn thông long mạch Chưởng Tòa Tam Giang.
Trách nhiệm con còn đang hoằng nặng,
Vừa ẩn trong kết chặng đường xa;
Vừa khai thông luật Giáo Tòa,
Vừa thông nguồn bản hướng mà Trung Ương.
Đạo Cường con ! môi trường Quốc Ngoại,
Tâm sáng ngời triêm trãi chung lo;
Tổ Tiên Chính Giáo vai trò,
Thông nguồn mạch sống giúp cho đủ đầy.
Trước cần phải về ngay gầy dựng,
Điểm tập trung bền vững Miền Tây;
Long Thành là điểm đủ đầy,
Để lo giao tiếp kịp ngày Cơ Quy.
Quy Tiên Giáo có y Thiên lịnh,
Nhưng người xem bàn tính chưa thông;
Chữ quy là chữ Đại Đồng,
Chữ quy là biết mở lòng yêu thương.
Quy là biết đảm đương chung sức,
Biết trở về kịp lúc giổ Cha,
Cũng như ngày giổ Ông Bà,
Đâu đâu cũng phải nhớ mà  về lo.
Quy chẳng phải tự cho mình lớn,
Quy cũng không buộc vốn hay lời;
Biến thành một sắc, một nơi,
Một nghề, một nghiệp có thời quy chi.
Đại Đồng thông là quy tâm tưởng,
Tâm hướng lên chấp chưởng điều trên;
Phàm tình đổi lại, làm nên,
Thông linh siêu xuất, vững bền muôn thu.
Cần tạo vững đường tu cá thể,
Để phận mình không trễ Pháp Luân;
Cùng đồng trách nhiệm lo chung,
Lo chung, công đức khôn lường đó con.
Bao nhiêu việc khuyết tròn suy nghiệm,
Tạo thành Trang, thành tiếng Đại Đồng;
Trang Hoành như tiếng trống đồng,
Trang Cường tợ thể nước dòng suối reo.
Có nhiều Trang dù theo trình tự,
Cũng được phần vinh dự báo tin;
Đôi câu đáp lại thâm tình,
Giã con nam nữ, điển huỳnh ban chung.
Long Thành chuẩn bị nấu nung,
Dự ngày Giỗ Tổ, trùng phùng đệ huynh.
Giã chung, Mẹ trở Kim đình,
Hồng ân ban rãi muôn nghìn huyền vi.
Thăng./.

MINH TÂM KHAI TÁNH GIÁC VÔ VI

     Đàn Ngọ thời, ngày 07-01 Kỷ Sửu,
nhằm ngày 01-02-2009

MINH TÂM KHAI TÁNH GIÁC VÔ VI
Phò loan: Minh Văn - Minh Hồng,
Độc giả: Minh Nguyên - Minh Loan(1),
Điển ký: Minh Kiệt - Minh Cẩm.

Đ À N T Â N N I Ê N K Ỷ - S Ử U

KỶ NIỆM NGÀY GIÁNG SANH CỦA THẦY
THI
MINH tâm KHAI tánh GIÁC VÔ VI,
Học tập CHƠN thường tránh lỗi nghì,
NƯƠNG pháp NƯƠNG kinh nên ĐẠO ĐỨC,
KIM TIÊN đã thật vẹn tu trì.
          Huynh, Minh Huấn, với Minh Khai và Vô Vi, có cả Khai Giác, đồng báo Lễ Đại Đàn Tân Niên và mừng tất cả hiền đệ muội!
Hãy khoan dâng rượu bồ đào và miễn lễ để đệ muội thử nghe huynh tỷ có vài lời vào dịp Xuân về.
Vô Vi có gợi ý gì?
Vô Vi: Tỷ nhắc hiền đệ muội về Hương Xuân:
Dụng huệ trí, vận bi hùng lực
Cho ngôn hành tránh được quấy lầm,
Là phương vẹn phận tu tâm,
Dưỡng Tâm Xuân để thân tâm lạc nhàn.
Xuân đất trời tuần hoàn luân chuyển,
Chớ lòng chơn hằng quyện hương xuân,
Hạ, thu, đông cứ ngắn dần
Để tròn năm tháng, hương xuân ngập lòng!
Khai Giác có thêm ý gì không?
Khai Giác: Bần đạo xin tặng thêm một vế:
Ngươn thần hiện từ trong thân tục
Có e gì lữa rực trưa hè,
Chẳng lo thu đến, đông về,
Màng chi gió lạnh uá hoè cỏ cây!
Chúc chư hiền sớm ngày toại nguyện!
                   Thôi! Cũng tạm đủ, để huynh, tỷ, đệ, muội cùng nhau kỉnh thành đón mừng Sư Phụ đến!
THI
CAO ĐÀI hằng ứng hóa vô vi!
Phận trẻ khá tròn vẹn hữu vi,
Nếu hữu vẹn thì vô cũng trọn,
TIÊN ÔNG điểm trẻ lực, hùng, bi!
                Cao Đài Tiên Ông, Thầy các con!
Thầy mừng các con! Và Chư Tiên Phật cũng đồng mừng các con!
Thầy ban Đại Hồng ân cho các con, khá thường nhựt vui tu để rèn thân, luyện kỷ! Thầy chiếu giám
lòng thành của các con đã đảnh lễ đầu Xuân Kỷ Sửu và tưởng nhớ đến ngày Thầy đã giáng sanh.
Thầy miễn lễ, các con an toạ, nghiêm cẩn đàn và đại tịnh, nghe!
Các con! Đàn nay, Thầy sơ lược yếu lý về trừu tượng, vô hình, vô vi.
Nầy các con!
Các con đã biết:
"Ý đại định, tâm tĩnh, thân an".
Còn nếu, ý tung nhảy thì tâm động, thân dời.
Trong sự việc đó:
Thân thuộc về cụ thể, hữu hình, hữu vi,
Còn ý, tâm thuộc trừu tượng, vô hình, vô vi. Nên, nào có ai mà -mắt thấy,
-tai nghe, hay
-tay nắm được ý, tâm của ai bao giờ, mà chỉ có thể cảm hiểu ít nhiều tâm, ý của một người bằng vào tâm linh của chính mình mà thôi!
Đến đây, các con đã kịp liên nghĩ đến các nhị nguyên, như: -thể chất và tinh thần,
-khí và thần,
-hữu hình và vô hình,
-phần hữu vi và phần vô vi nơi thân tứ đại chưa?
                Đó là để nhắc các con: Vật chất hằng thường tương giao mật thiết với tinh thần, nói cách khác, thể chất nào thì tinh thần đó, và ngược lại. Hãy nghe:
THI
Minh linh bậc nhứt vốn nhơn sanh,
Thân nhược, thể cường bởi khí tinh.
Tinh đủ, khí đầy, thần diệu ứng,
Thần vô, khí hữu, trẻ nên rành!
     Có điều, có ai và bao kinh điển nào mà đã dễ dàng giảng giải lãnh vực vô vi cho tận tường, rành rẽ đâu! Các con! Nghe:
THI
"Không, Sắc" tương đồng tuyệt nhiệm mầu,
"Tinh Thần, Thể Chất" thật tương giao!
Nhị nguyên "Vô Hữu" linh huyền diệu,
Nhưng tận tường Vô chẳng dễ đâu!!
         Cho nên, các con khá hằng lo sao cho vẹn phận sự hữu vi của mình, vì Hữu vẹn được bao nhiêu thì Vô Vi ứng hóa theo đó mà được trọn bấy nhiêu.
Ngoài ra, ở đâu, đó, Thầy đã có nhủ các con, sự ứng hoá của vô vi rất tuyệt diệu, tuyệt nhiệm mầu, mà bên trên tất cả, còn có Thầy hay Đạo hằng bố hoá nữa! Các con, với lòng dạ tỉnh thức ít nhiều hữu hạn, thì làm sao có thể hiểu vô vi cho tận tường, thấu đáo được!
Vì vậy, hãy nhiếp ý cho thường nhựt luôn luôn bền chí, trì tâm lo cho Pháp được lãu thông, cho Kinh được nhuần nhuyễn là được. Vì bao nhiêu hữu hình đó cũng đã đủ hay ít nhiều quá sức bình sanh của các con rồi.
Lại nữa, khá hằng càng kiện đức tin, tin rằng bên trên việc gì hay chi chi đó, luôn luôn có Thầy hằng tuỳ căn cơ, huệ mẫn, duyên phận của các con mà hộ độ từng con trên bước đường tu
học. Chớ còn, nếu các con cứ lơi kềm ý để luôn vọng tưởng, mong tìm hiểu và đạt cho được gì đó trong lãnh vực vô vi, thì chỉnh e, cuối cùng, hồng trần sẽ lấp vùi Linh căn, Tịnh tánh của các con đó!
Khá nghiệm suy và y hành!  Thôi! Các con hãy đọc Chốn Bồng lai để cung tiển Chư Tiên Phật.
( Đọc đến câu: Tối vào kiển Thánh, sớm ra non Thần). Các con đồng nghe giảng rộng hơn:
BÀI
Thế thường nói, thể thân khoẻ mạnh
Thì tinh thần lành mạnh thanh cao.
Đó là "Vô Hữu" tương giao,
"Tinh thần Thể chất" lược thao tương đồng.
Luận tinh thần, tay không thể nắm,
Dùng mắt mà nhìn ngắm được đâu,
Lóng tai nghe ngóng được nào,
Vô vi chỉ cảm bằng vào tâm linh!
Bàn thể chất vốn hình sắc tướng,
Bao vật linh sanh trưởng giữa trần,
Rõ ràng nhứt ở thế nhân,
Thân và Thần vốn hai phần Hữu, Vô.
Thể thân sanh là do Phụ Mẫu,
Trưởng thành nhờ tinh bảo, khí tồn.
Khí tinh dứt, thân nào còn?
Khí tinh đầy đủ, Thân tròn Thần linh!
THẦN vô hương, vô thinh, vô sắc,
Bao điển kinh vẫn thật chưa rành,
Toàn thanh, diệu ứng, minh linh,
Là Phần tinh tuý, nhất tinh nơi người.
Dễ hiểu đạt cho ai tu học,
Là chuyên cần sửa vóc thân phàm,
Ý suy, khẩu nói, thân làm
Mà đồng nhất quán, thì Phàm hoá Tiên.
Gọi Thánh, Thần, Phật, Tiên đắc quả,
Là tượng hình ứng hoá vô vi,
Ứng nơi con trẻ vẹn nghì
Hằng lo trọn phận hữu vi của mình!
Hữu vi là chiếu minh tâm nội,
Hữu hình là dẫm mỗi dấu mòn.
Nhứt tâm, nhứt đức, sắt son
Thệ hành, nguyện tập vẹn tròn Pháp Kinh.
Ngoài hữu hình, ức tình, chế ngã,
Trong vô vi, vô ngã, tịnh thanh,
Lòng tỉnh thức, dạ huệ minh,
Đèn lòng ngời sáng, lung linh soi đòi!
Xuân Kỷ Sửu, ban lời kim thạch
Để con thơ vi bạch phản hồng.
Kìa rượu đào với ân hồng,
Thưởng cho con trẻ vẹn lòng gìn tâm!
                                                THĂNG.
Đàn Ngọ thời, ngày 13-03 Kỷ Sửu,
nhằm ngày 07-04-2009

Phò loan: Minh Văn - Minh Hồng,
Độc giả: Minh Nguyên - Minh Loan(1),
Điển ký: Minh Kiệt - Minh Cẩm.
MINH YÊN xin keo 100 ngày: keo được,
MINH NHƠN - - - - : keo được,
MINH LOAN(2) - - nhị bộ: keo được.
Đ À N LỄ KỶ N I Ệ M
N G À Y T H Ầ Y Q U I L IỄ U
THI
MINH dạ, KHAI lòng học đạo tâm,
GIÁC CHƠN, MINH định được sai lầm.
KIM TIÊN, Thánh, Phật đồng phương hướng,
Hướng thượng thanh cao, lánh trược trầm!
Huynh, Giác Minh cùng với Minh Khai và Khai Giác, hôm nay, đồng viếng Lễ Đại Đàn kỷ niệm ngày Thầy đã qui liễu và chúng huynh đồng mừng tất cả hiền đệ muội!
Khoan dâng rượu đào để thử nghe vài nhắc nhở.
Minh Khai gợi ý!
THI
Đạo tại trong thân, Đạo chẳng xa,
Thân nào cũng có Ý, Tâm mà!
Khai Giác thêm chi?
Ý nào cũng giữa Thân, Tâm cả!
Tánh phục, khi Tâm, Ý một nhà.
Thôi! Huynh, đệ, muội cùng nhau thành kỉnh đón mừng Sư Phụ đến!
THI
CAO quí là tường tận Ý, Tâm!
ĐÀI kềm ý để luyện thanh tâm.
TIÊN ÔNG gọi ý, tâm âm đó,
Gốc tứ đại mà diệu giống tâm!
Cao Đài Tiên Ông, Ngô Tiên Ông, Thầy các con!
Thầy mừng các con và Chư Tiên Phật cũng đồng mừng các con!
Thầy ban Đại Hồng ân cho các con và miễn lễ!
Các con khá an toạ, nghiêm cẩn đàn và đại tịnh nghe.
Nầy các con! Ở đâu đó, Thầy có dạy:

" Ta bà khắp chỗ đâu rằng Đạo,
       Đạo tại trong thân... "
vì thân là nơi hằng xảy ra sự trì kéo giữa Lục thất và Tâm hay Lương tâm hay Chủ nhơn ông của các con.
Mặt khác, nơi nhơn sanh, nếu thân đội trời đạp đất, thì trong chiếc thân cũng vậy, Ý là trung gian giữa Thân và Tâm. Vì vậy, ý linh động cho mấy vẫn luôn luôn theo hai khuynh hướng, hướng thanh cao về nẻo chơn hay hướng trược trầm về nẻo vọng.
Nói cách khác, ý là một Gạch nối liền phần tứ đại vật chất hay thân và phần tinh thần hay tâm. Cho nên, phận tu tâm chính là huân tập cho được ý vọng quay về nẻo ý chơn, thanh cao, hướng thượng, cho đến điểm trung, tức là nơi, lúc niệm chưa dấy!
Các con khá hiểu!
YÊN! Keo được
YÊN! Hãy nghe!
THI
Chứng chiếu YÊN con đoạt tuyến đầu,
Vững lòng cất bước hướng Đài Cao.
Tâm kinh tý ngọ tua nhuần nhuyễn,
Tiên tửu trợ con vẹn pháp mầu.
NHƠN! Keo được.
NHƠN! Nghe!

NHƠN con nay đạt duyên lành,
Nhiếp tâm gìn ý để thanh tịnh lòng.
Tứ thời khá gắng gia công,
Rập in Kinh cảm thân không quấy lầm.
Tâm kinh hai lượt chuyên cần,
Còn tiên tửu trợ con nhuần khuôn linh.
LOAN(2)! Keo được.
LOAN(2)! Khá nhớ:
THI
Bóng Hồng vừa tứ thiện duyên xưa,
Trẻ khá từ rày kíp lọc lừa!
Lọc giữ ý thanh, lừa ý trược
Mới hòng giảm gió tạt lùa mưa!
LOAN(2) khá nhớ! Nhặt thưa kinh pháp
Thì dễ quên nẻo tắt quay về.
Ấm no nào phải bộn bề
Thoáng quên chữ đủ, ủ ê tháng ngày.
Nhìn phật tử, học bài tâm tức,
Chậm, đều, sâu, nhẹ thật khoan thai,
Tâm yên, ý lặng thảnh thơi
Là phương xuất thế, ly khai thói đời.
LOAN(2)! Nhớ chớ đơn sai, bê trể
Vì vô thường có nể ai đâu!
        Thôi! Các con đọc Chốn Bồng lai để cung tiển Chư Tiên Phật! ( Đọc đến câu: Gió hoà trăng rạng... )
Các con đồng nghe:
BÀI
Nhơn sanh giữa càn khôn vũ trụ,
Thân hỗn hào những tứ đại thôi,
Đất kia xoay chuyển lưng trời,
Còn thân tợ cánh bèo trôi giòng đời.
Trời khinh thanh, đất thời trọng trược,
Đất vị khôn, trời được ngôi càn.
Nơi người, tâm ứng với thân,
Hữu hình, trừu tượng muôn phần hỗ tương.
Trời và đất, âm dương thăng giáng,
Từ hỗn hào, trược lắng, thanh phù,
Tâm thanh rạng ánh trăng thu,
Còn thân quả dục thiểu tư nhã nhàn.
Rất đặc biệt, giữa thân tâm đó,
Tứ đại còn não bộ tinh anh,
Là nơi căn ý trưởng thành,
Phát sanh ra Ý diệu linh ở người!
Sanh ra đứng giữa trời và đất,
Người thông minh bậc nhất vạn linh,
Là nhờ có ý minh linh
Vận hành hai hướng cao thanh, trược trầm.
Hướng thanh cao vì ngàm chặt ý
Để tiết dục, khắc kỷ, phục thân,
Ý nào giảm được duyên trần
Thì thân khẩu đó thanh nhàn tịnh yên.
Hướng trược trầm chẳng niền cái ý,
Ý nhảy tung như khỉ sổng chuồng,
Dục danh, cầu lợi, bày tuồng,
Khổ tân, tục luỵ nhiễu nhương đáy lòng.
Phận tu tâm khá thông hiểu ý,
Ý làm gì trong " ý thân tâm " ?
Ý là gạch nối thân tâm,
Nối thân vật chất vào phần tâm linh.
Ý định, thì tâm linh nhàn hạ,
Ý buông lung, rộn rã não phiền.
Tiên, Phàm chỉ khác một duyên,
Duyên là trẻ có dám xiềng khỉ không?
Ban các trẻ men nồng, ngon, ngọt
Cho trẻ vui giũa, gọt ý phàm,
Thường hằng hoá giải tâm âm
Mới hòng nên Đạo, thanh tâm giữa đời!
                                            THĂNG.
Đàn Ngọ thời, ngày 01-05 Kỷ Sửu,
nhằm ngày 24-05-2009

Phò loan: Minh Văn - Minh Hồng,
Độc giả: Minh Nguyên - Minh Loan(1),
Điển ký: Minh Kiệt - Minh Cẩm.
MINH DUNG dâng lễ 9 năm. năm.

Đ À N L Ễ K Ỷ N I Ệ M
M I N H SỬ Q U I L I Ễ U
THI
CAO ĐÀI huấn dụ TỈNH thanh tâm.
Nhuần nhuyễn Cảm kinh khỏi muội lầm,
Giữ ý CHÁNH CHƠN trong cuộc sống,
Nên TIÊN ÔNG đã đạt thanh tâm.
                 Cao Đài Tiên Ông, Thầy các con! Thầy mừng các con và Tỉnh Chánh cũng mừng các con!
Thầy ban Hồng ân cho các con. Khá nhiếp tâm gìn giữ cái ý cho lắm trong cuộc sống.
Thầy miễn lễ, các con khá an toạ, nghiêm đàn và tịnh tâm!
Nầy các con!
Các con đang học đạo ngay giữa giòng đời. Đó là các con phải hằng mật sát cái ý để hiểu được từ đâu mà niệm đã phát sanh và nắm cho được chiều hướng vận hành của ý mới có thể rập thân khẩu cho in theo hạnh giới của Kinh cảm. Các con lại bền chí chuyên cần với năm qua, tháng lại, thì,
sớm muộn các con cũng tựu chánh, thanh tâm. Còn chứng quả đến đâu,
thì, dĩ nhiên, còn tuỳ thuộc vào căn cơ, huệ duyên của các con nữa! Các con khá hiểu!
DUNG! Thầy chứng chiếu Lễ 9 năm tu học của con! Hãy nghe: Thi trung hữu ý!
THI
Giòng đời nào chẳng bèo danh lợi?
Tâm đạo nào còn bợn lợi danh?
Gắng lắm quả công e dục dấy,
Thoả lòng, thích dạ ngại tình sanh.
Đã chín năm chiếu minh tâm nội,
DUNG nhuyễn nhuần danh lợi rồi chưa?
Lợi vật chất dễ lọc lừa,
Chút danh, mọn tiếng khó chừa, khó buông!
Nên tu tâm hằng thường kềm ý,
Luôn hỏi lòng xem ý muốn gì?
Cửu niên diện bích là chi?
Người xưa diện bích nhìn gì hở con?

Các trẻ cũng hãy nghe:
Nhìn tường dạ xem còn bợn lợi,
Nhìn vách lòng tìm chút bợn tư.
Mỏng, dày bợn vẫn ám mù,
Vẹt mù kịp, lộ trăng thu đêm rằm!
Nầy các con!
Đàn nay, Thầy dùng danh gọi để điểm các con. Hãy nghe:
VĂN, NGUYÊN! Đã vẽ chữ Hoà,
Khá tô đậm nữa mới là trò ngoan.
HƯỜNG! Mộc dục tuyệt nhẹ nhàng,
Im hơi, bặt tiếng mới càng mầu hơn.
CẨM, TRẠCH! Thân dấn Linh sơn,
Gắng, lo, rán lắm khó tồn khí tinh.
KIỆT anh mến chuộng lòng thanh,
Chữ thừa, chữ thiếu đã rành rẽ chưa?
LOAN(2) con! Pháp chớ quá thưa!
HIỆP thì ôn cố, lọc lừa tri tân.
NỮ hào lý nhuyễn, luận nhuần,
Mới hòng kềm ý thục thuần dễ hơn.
LOAN(1) nêm chênh lệch vuông tròn
Thì con mới dễ an toàn đường mây.
Chim HỒNG tung cánh dặm dài
Cũng cần bền chí để tày biển đông.
NHƠN thề nguyện với Bóng Hồng,
Dạ lòng thanh tịnh mới hòng đạo nên.
Nóc nhà TUYẾT đổ bên trên,
Con tua tự quét chớ nên chờ người.
ÚT! DUNG! Chọn phượng thờ Trời,
Lơi kềm ý, khó ly khai thói đời.
                 Lời kim thạch, chớ đơn sai! Các con!
Nay, Thầy cho chơn linh của MINH SỬ tá cơ. Vậy, các con khá nghiêm cẩn tiếp cầu! Thầy thượng ỷ!
Tiếp Cầu:
Tâm đạo giúp TỈNH thanh lòng,
Ý mà trung CHÁNH dạ không não phiền.
CHƠN thành học đạo mới nên,
Phật TIÊN xưa cũng đi trên một đường!
Là ẩn tu giữa nhiễu nhương,
Giữa đời mà chẳng vấn vương thói đời.
                Huynh, Minh Sử, mừng tất cả hiền đệ muội! Chớ dâng rượu đào, huynh miễn lễ,
đệ muội hãy cùng nhau an toạ!
Nầy đệ muội! Thầy đã ban ơn, hôm nay, huynh đệ muội đang sum vầy dưới bệ tiền.
Vậy, đệ muội hãy định tâm cho ngươn thần huynh, đệ, muội dễ tương đồng giao cảm!
Đệ muội! Thật khó cho huynh tìm đủ lời để cạn tỏ nỗi niềm đồng đạo đệ, muội, huynh! Nhơn Thầy vừa
nhắc nhở đệ muội về Kinh cảm, huynh có đôi lời gọi là lưu niệm trong buổi trùng phùng đàn nay.
Vậy, đệ muội đồng nghe thử:
Ki ểu song tu dùng Kinh, dụng Pháp,
Báu pháp dùng tập ráp khuôn linh,
Cảm kinh hạnh giới thân mình,
Thân không lỗi mới nhàn thanh an hoà.
Căn ý trong thân là nhân đó,
Tam tâm nầy, cảnh nọ là duyên.
Ý căn vừa nhiễm trần duyên,
Ý liền sanh khởi nhân duyên khác rồi!
Bởi vô thường, vật dời, hoá, chuyển,
Vạn thù ngoài, thiên biến ở trong.
Vật tàng Thái cực bên trong,
Nên chi sắc tướng rặc ròng nhị nguyên.
Pho Kinh cảm bày hiền, phô dữ,
Người khá minh định sự, thế tình!
Cho thân dễ tránh trần manh,
Sống đời hướng thượng, quang minh, thiện lành.
Kinh cảm luận ý thanh, ý trược
Vẽ thành tranh hoạ phước thật rành,
Tự mình tiết chế ý mình,
Tự mình trách nhiệm việc mình đó thôi!
Hoạ hay phước mình dời mới tới!
Buồn, vui, mừng, giận bởi tự mình!
Dục tình nào chẳng nghiêng chinh?
Vì do ý vọng hoành hành nơi thân!
Nay, đệ muội ân cần tưởng nhớ
Chơn linh nầy một thuở chung đàn,
Đã cùng nhau gội Hồng ân,
Cùng nhau học tập tu thân sửa mình.
Huynh chiếu giám lòng thành giao cảm,
Mời đàn trung hoan ẩm rượu đào,
Mừng đệ muội dắt dìu nhau
Sống chiều hướng thượng thanh cao Thầy truyền.
Huynh kiếu!
                                          THĂNG.
Đàn Ngọ thời, ngày 29-05 Kỷ Sửu,
nhằm ngày 21-06-2009

Phò loan: Minh Văn - Minh Hồng,
Độc giả: Minh Nguyên - Minh Loan(1),
Điển ký: Minh Kiệt - Minh Cẩm.
MINH LOAN(1) dâng lễ 12 năm.
THI
CAO phục Linh căn hay Tịnh tánh,
ĐÀI tuân Ông chủ hoặc Ngươn thần.
TIÊN là vị chủ nhơn ÔNG đó,
Hằng khéo cẩn cô ý nhiễm trần!
                    Cao Đài Tiên Ông, Ngô Tiên Ông, Thầy các con! Thầy mừng các con!
                    Thầy ban Hồng ân cho các con! Khá hằng nhiếp tâm rình rập cái ý cho khéo!
                    Thầy miễn lễ, các con khá an toạ, nghiêm đàn và tịnh tâm, nghe!
                     Các con! Đàn lệ nay, Thầy ôn lại và luận thêm vài điều về Ý và Tâm.
Nầy các con!
Thân người có cái chi đó thuộc về trừu tượng, tinh thần.
Biết bao người đã cố gắng tìm hiểu, rồi cưỡng dụng hai từ "tâm và âm" ghép lại thành một chữ tượng hình mới và gọi là Ý.
           Cái ý xuất phát từ ý căn nơi tứ đại, rất minh linh, diệu ứng và hằng tác động như một trung tâm điều khiển được lục dục và phối hợp được với thất tình, tạo nên một hình ảnh mà thế nhân thường gọi là tâm hồn ở một người.
Mà, ý đã là một trung tâm như vậy, thì có thể sánh cái ý với một quân vương của một nước. Mà, một vì vua, thì có thể là một hôn quân hay một minh quân hoặc, thông thường hơn, có thể ít nhiều vừa là cả hai!
Cho nên, nói đến ý, thì khá hiểu là, dầu cho ý có vạn phần minh linh, bao tác động của ý thường mang tánh chất nhị nguyên.
Nói cách khác, ý chỉ hằng vận hành theo hai động hướng mà thôi: Lành hay dữ, Giác hay mê,
Thanh hay trược, Vị tha hay vị kỷ!
Mặt khác, nếu Trời đã ban cho nhơn sanh cái ý tuyệt nhanh nhẹn để ứng phó với mọi hoàn cảnh trong cuộc sống, thì Trời cũng ban thêm cái Tâm cho người.
Cái tâm nầy tương ứng với Lý Thái cực nơi Càn Khôn Vũ trụ, nên Thánh Giác hằng cho là Thái cực đã lồng vào vạn vật và rõ ràng nhứt là ở nhơn sanh.
Mà, đã như vậy, thì tâm nầy là một Thanh quang, toàn thành, toàn bích, toàn thiện, toàn năng, tuyệt minh linh, hằng trung chánh, tự nhiên luôn luôn sáng suốt thấu đáo được trạng huống, thế tình trong sự việc!
Ngoài ra, đặc biệt là, cái tâm hằng thường theo dõi được các cách ẩn tàng và vận hành của ý nơi thân. Cho nên, tâm có thể ghìm ý lại khi ý vừa phóng phát theo chiều trầm nịch, để lôi kéo ý quày trở lại động hướng ngược chiều, tức là hướng về lại lúc, nơi mà ý chưa nhiễm cấu trần.
Nhờ đó, cái tâm mới tạo được cơ duyên cho nhơn sanh được nhàn nhã, an lành, thanh cao, và tâm linh người mới dần dần tiến đến chỗ phong quang, chí thiện!
Các con khá nghiệm suy cho thật thấu đáo! Hãy nghe:
THI
Người sống an nhàn giữa thế trần
Nếu kềm chặt ý khiến sai thân
Theo chiều chơn chánh, thanh cao thượng,
Theo nẻo tâm trung, hướng Chủ nhân!
LOAN(1)!
Thầy chứng chiếu con đã chơn thành tu học Đạo tâm! Vậy, khá suy nghiệm như sau:
THI
Trọn thập nhị niên học tập Tiên,
Dạ LOAN(1) có thật chút nhàn yên?
Nhàn là ngoại cảnh con quên nhớ,
Yên vốn tam tâm trẻ nhớ quên!
Cưỡng gọi thiền, ngoài quên vật cảnh,
Còn định, trong chẳng dính tam tâm.
Vở lòng trọn, nếu ý đằm
Quên mầm trọng trược, nhớ mầm thanh cao.
Trọng trược khi ý vào quá khứ
Tạo duyên cho xưa cũ, vị lai
Vận hành, chuyền xoáy hiện nay
Thành bao sóng vỗ, mây bay não lòng!
Các trẻ cũng đồng thử nghe:

Trẻ Tam thanh trọn lòng, vẹn dạ
Tìm lúc, nơi ý đã dấy sanh,
Rồi liền quyết lực, hùng, anh
Chặt ghìm ý lại, kỉnh thành đoạn duyên.
Bởi Chiếu minh tựa trên thành kỉnh,
Kỉnh phục Trời, Thành tín chính mình!
Thôi! Các trẻ đồng nghe ôn gọn:
BÀI
Thân đứng giữa trần duyên vây chặt,
Thì duyên trần thường nhập vào thân
Xuyên qua sáu nẻo, sáu căn
Làm cho thân phải đa đoan dục tình!
Chủ chốt của dục tình là ý
Hằng khiến sai tỉ mỉ từng căn,
Sao cho toàn bộ các căn
Đồng chiều cảm nhiễm, rồi thân dạc dời.
Rất hiếu động, giỏi tài chuyền nhảy,
Ý lăng xăng, phóng chạy muôn phương,
Đó là khỉ nhỏ thoát chuồng,
Ngựa kia, ngàm lỏng, khôn phương thẳng hàng!
Nhờ có Tâm Trời ban từ thuở
Cho nhơn sanh sống giữa đất trời
Có huyền năng hướng theo Trời,
Chặt ngàm được ý tách rời trần duyên!
Là Lương tâm triền miên bất biến,
Là Ngươn thần toàn thiện, toàn năng,
Nhiệm mầu, trung chánh, cân bằng,
Dõi theo cách ý ẩn tàng nơi thân.
Là Tịnh tánh, Chủ nhơn ông đó,
Là Linh căn muôn thuở như nhiên,
Giúp người nên Thánh, nên Hiền,
Tạo Tiên, tác Phật nhàn yên giữa đời!
Chủ nhơn đó một đời khắc kỷ,
Chẳng hề lơi giữ Ý, gìn Tâm.
Nhị nguyên, ý đúng hay lầm,
Chủ ông chỉ dưỡng tồn mầm siêu sanh!
Ban rượu đào mùi thanh, vị ngọt,
Các trẻ vui, mật sát ý hoang!
Khéo ngàm thì ý phải ngoan,
Rồi qua năm tháng, đoan trang thôi mà!
                                                 THĂNG.