Friday, February 7, 2014

DUC CHI TON-HOANG THUONG DE CHIEU


DUC CHI TON- DANG CHA LANH NGOC HOANG THUONG DE CHIEU


HẰNG NIỆM LỤC TỰ CAO ĐÀI

ThienNhan

HẰNG NIỆM DANH HIỆU THẦY
Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát

Kệ I
Tám mươi bốn ngàn pháp
Vào thời kỳ mạc kiếp
Dễ tu có một món
Niệm Cao Đài Thượng Đế
Các dục vọng tiêu tan
Tâm trí được sáng suốt
Niệm Thầy một lòng thành
Được trở về Thiên Quốc.
Kệ II
Tất cả tấm lòng thành
Gom vào niệm Thượng Đế
Khi niệm ấy phát lên
Vang rền trong trời đất
Rừng mê cháy sạch không
Biển khổ lấp bằng mặt
Chở trong cái hoát nhiên
Ngộ Thiên + Nhân hiệp nhất
Kệ III
Niệm Cao Đài Thượng Đế
Nối liền không hề dứt
Lục tặc hết đường sanh
Tam bành không chỗ xuất
Tan dần nẻo ngục môn
Lộ dần đường Thiên Quốc
Sức mầu nhiệm vô cùng
Khi được dày công đức
Kệ IV
Đi đứng niệm danh Thầy
Nằm ngồi trì Thượng Phụ
Thức cũng tưởng Cao Đài
Ngủ cũng ghi Thượng Đế
Nói cũng nhớ Nam Mô
Nín cũng ôm đạo sự
Muốn phản bổn hoàn nguyên
Cứ y hành như thế.
Hằng niệm: Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
(Niệm thành tiếng hoặc niệm trong tâm).
*****

HẰNG NIỆM LỤC TỰ CAO ĐÀI
Nam-mô Cao-Đài Tiên-Ông
Lòng dặn lòng đừng xa lục tự,
Câu mật truyền con giữ tinh vi;
Công phu hạnh đức trọn ngày,
Đạt thành Đạo cả huyền vi khó gì.
Ngọc Hoàng Thượng Đế - TGST

Vía Trời mùng chín tháng Giêng

Ý nghĩa ngày lễ Vía Trời mùng chín tháng Giêng

Ngày đăng bài Thứ Hai, ngày 18-02-2013
Vài tên gọi của ngày mùng 9 tháng Giêng
Ngày xưa, khi đi làm đồng, trai gái hay hò vè đối đáp thử tài nhau, vừa để cho vui quên nhọc mệt, vừa để có dịp làm quen hay kín đáo bày tỏ tình cảm. Có cô gái đố chàng trai thế này:
Thấy anh hay chữ, em hỏi thử đôi lời,
Thuở tạo thiên lập địa ông Trời tròn ai xây?
Như thế là hỏi khó chàng trai, vì đâu ai biết Trời sinh ra do đâu và sinh ra từ lúc nào. Nhưng dân gian lại cho ngày mùng 9 tháng Giêng âm lịch là ngày vía Trời.

Vía là tiếng Việt cổ. Huỳnh Tịnh Paulus Của giảng: "Ngày vía: Ngày sinh" [1]
Lại giảng thêm: Mồng chín vía Trời, mồng mười vía Đất: Ngày mồng 9 mồng 10 tháng Giêng thói tục hay cúng Trời cúng Đất, hiểu là ngày Trời Đất sinh.”

Chữ Hán gọi ngày sinh là đản nhật 誕日, nói tắt là đản . Ngày sinh của Phật gọi là Phật Đản . Ngày mừng Chúa Giêsu giáng sinh gọi là Thánh Đản Tiết (tiết: ngày mừng).
Chữ Hán cũng gọi mừng ngày sinh là Khánh Đản (khánh: mừng). Đức Lý Giáo Tông đã gọi ngày mùng 9 tháng Giêng là ngày Khánh Đản Đức Chí Tôn, tức là ngày mừng Trời sinh ra:
“Chư hiền đệ muội! Hôm nay, ngày này nơi thế gian cũng là ngày Khánh Đản Đức Chí Tôn Thượng Phụ. Chư Phật, chư Tiên khắp tam thập lục thiên, tam thiên thế giới đều đến triều phục, hỷ chúc thâm ân đức háo sanh Chúa Tể muôn loài vạn vật.” [2]
Ngày mùng 9 tháng Giêng được Đức Pháp Lực Kim Tiên (Nguyễn Bửu Tài) gọi bằng một tên khác:
“… Lời nói đầu tiên là Tiên Huynh rất cảm động và hoan hỷ được thấy tinh thần thương Thầy mến Đạo của các em trong ngày lễ Cửu Thiên Khai Hóa này…” [3]
Cửu Thiên Khai Hóa có nhiều cách giảng khác nhau. Căn cứ theo ngữ cảnh của đoạn thánh giáo trên, có thể giảng như sau:
Cửu Thiên: Chín phương trời, nói chung là cả vũ trụ.
Khai Hóa: Mở mang, giáo hóa về văn minh, phong tục, đạo đức.
Cửu Thiên Khai Hóa là đấng có công giáo hóa cho tất cả càn khôn thế giới, tức là Đức Chí Tôn Thượng Đế.
Ngày mùng 9 tháng Giêng là tín ngưỡng Trung Quốc xa xưa
Từ điển bách khoa điện tử Wikipedia (chữ Hán) cho biết hai chi tiết:

1. Sách Lãi Hải Tập của Vương Quỳ đời Minh chép: “Thần minh giáng sinh, lấy nghĩa khởi lên. Ngọc Đế sinh ngày mùng 9 tháng Giêng; số dương bắt đầu là 1 mà cực điểm là 9. Khởi đầu phải có kết thúc.” [4]

2. Sách Nguyệt Lệnh Minh Nghĩa của Hoàng Đạo Chu đời Minh chép: “Ngày mùng 9 tháng Giêng, các thần trên trời và dưới đất triều bái Tam Thanh Ngọc Đế. Ngày mùng 9 là ngày sinh của Ngọc Hoàng Đại Đế.” Sách Nguyệt Lệnh Chú Giải của Hoàng Thích đời Thanh cũng chép tương tự như vậy.[5]

3. Trong một bài viết Hán-Anh tại một mạng giáo dục của Đài Loan, có mấy chữ sau: Chính nguyệt sơ cửu nhật Thiên Công sinh đương thiên. , và được dịch sang tiếng Anh là “the ruler of heaven born on the same day on the annual the ninth day of the first month of the lunar calendar”.[6]
Như thế, Thiên Công (ông Trời) sinh vào ngày mùng 9 tháng Giêng.

4. Về tục thờ Ngọc Hoàng vào ngày mùng 9 tháng Giêng (the worship of the Jade Emperor God ) của người Hoa ở tỉnh Phúc Kiến , có người nói rằng ngày này được chọn là do ý nghĩa xa xưa của con số 9. Theo kinh Dịch, quá trình tiến hóa gồm có chín giai đoạn, số 1 là giai đoạn đầu tiên, số 9 là viên mãn. Do đó chọn ngày thứ chín của đầu năm mới là ngày sinh của Trời.[7]
Ngày vía Trời không phải là ngày tế Trời trong lễ Nam Giao
Ngày xưa các vua tế Trời qua lễ Nam Giao (cũng gọi tế Giao). Lễ này không trùng với ngày mùng 9 tháng Giêng.
Triều đình Trung Quốc khi xưa tổ chức tế Nam Giao vào ngày Đông Chí. Ngày Đông Chí luôn luôn nằm trong tháng 11 âm lịch (cũng gọi là tháng Tý).
Tự điển Khang Hy, mục từ Giao, giải thích: Ngày Đông Chí tế Trời ở vùng ngoại thành phía Nam, ngày Hạ Chí tế Đất ở vùng ngoại thành phía Bắc. Cho nên gọi tế Trời Đất là Giao.[8]
Ở Việt Nam, đời nhà Nguyễn, lúc đầu mỗi năm tế Giao một lần vào tháng 2 âm lịch (tháng Mão). Đến năm 1890 (năm Thành Thái thứ hai), thì cách ba năm mới tế Giao một lần vào tháng 2 âm lịch. Bộ phận chuyên trách về lịch và thiên văn của triều đình là Khâm Thiên Giám sẽ chọn một ngày tốt trong tháng 2 âm lịch để tế Giao.
Lễ tế Giao cuối cùng của nhà Nguyễn diễn ra ngày 23-3-1945 (10-02 Ất Dậu) dưới triều vua Bảo Đại. Trước đó ba năm, lễ tế Giao được tổ chức vào đêm 28 rạng ngày 29-3-1942, tức là giờ Tý ngày 13-02 Nhâm Ngọ. [9]
* * *
Lễ vía Trời tổ chức vào đầu mùa xuân, tháng Giêng, ngày mùng 9, giờ Tý. Các thời điểm này hàm ngụ ý nghĩa đạo lý có liên quan tới việc tu học và hành đạo.
Ý nghĩa chọn mùa xuân làm lễ vía Trời
1. Mùa xuân ứng với phương Đông
Bài khai kinh trong đạo Cao Đài mở đầu như sau:
Biển trần khổ vơi vơi trời nước,
Ánh thái dương giọi trước phương Đông…
Mặt trời (thái dương) mọc ở phương Đông nghĩa là bình minh xuất hiện, xóa tan màn đêm hắc ám. Ngụ ý sâu xa là ánh sáng của đạo pháp xuất hiện để xóa tan tội lỗi, giải trừ vô minh và đau khổ của chúng sinh. Chọn ngày vía Trời vào mùa xuân ứng với phương Đông (hướng mặt trời mọc) hàm ngụ ý nghĩa Thượng Đế là nguồn sáng của đạo pháp cứu độ thế gian.
Khi hành lễ vía Trời vào ngày mùng 9 tháng Giêng, người đạo Cao Đài tự nhắc nhở mình hãy học và hành theo gương cứu độ của Thượng Đế. Tức là cố gắng học đạo cho thông suốt, rồi đem đạo lý của Thầy mà tích cực thi hành trong công cuộc Phổ Độ Kỳ Ba.
2. Mùa xuân ứng với hành Mộc
Mùa xuân thảo mộc đâm chồi nảy lộc, vạn vật dồi dào sức sống. Chọn ngày vía Trời vào mùa xuân ứng với hành Mộc hàm ngụ ý nghĩa Thượng Đế là nguồn sống, là đức hiếu sinh hằng sinh thành và trưởng dưỡng vạn vật. Đức Chí Tôn dạy:
Con có thánh tâm sẽ có Thầy,
Thầy là Cha Cả khắp Đông Tây.
Tây Đông dù biết hay không biết,
Thì đức háo sanh vẫn thế này.[10]
Khi hành lễ vía Trời vào ngày mùng 9 tháng Giêng, người đạo Cao Đài tự nhắc nhở mình hãy học và hành theo đức hiếu sinh của Thượng Đế. Tập đức hiếu sinh thì khởi đầu là ăn chay để tôn trọng mạng sống các con vật do Trời tạo ra. Phải tập ăn chay bằng cách giữ trai kỳ (mỗi tháng một số ngày) cho đến khi có thể giữ trường trai (ăn chay quanh năm).
3. Mùa xuân ứng với đức Nhân
Ngũ đức là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Chọn ngày vía Trời vào mùa xuân ứng với đức Nhân (tình thương yêu) hàm ngụ ý nghĩa Thượng Đế là tình thương, là Đại Từ Phụ.
Ðầu năm Mậu Thìn (1928),[11] Đức Chí Tôn dạy:
Thầy thường nói với các con rằng Thầy là cha của sự thương yêu, là do bởi thương yêu mới tạo thành thế giới và sanh dưỡng các con. Vậy các con cũng sản xuất nơi sự thương yêu ấy.”
(…) “Sự thương yêu là giềng bảo sanh của càn khôn thế giới. Bởi thương yêu vạn loại hòa bình, càn khôn an tịnh. An tịnh mới khỏi thù nghịch lẫn nhau, mới không tàn hại nhau. Không tàn hại nhau mới giữ bền cơ sanh hóa.” [12]
Khi hành lễ vía Trời vào ngày mùng 9 tháng Giêng, người đạo Cao Đài tự nhắc nhở mình hãy học và hành theo tình thương yêu của Thượng Đế. Chỉ có tình thương mới là lễ phẩm xứng đáng nhất để dâng lên Đức Chí Tôn. Thầy dạy:
"Thương nhau, tặng vật hiến dâng Thầy...” [13]
4. Mùa xuân ứng với đức Nguyên
Quẻ Càn có bốn đức Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Trong đó đức Nguyên nghĩa là đầu tiên, lớn hơn hết, trùm mọi điều thiện. Chọn ngày vía Trời vào mùa xuân ứng với đức Nguyên hàm ngụ ý nghĩa Thượng Đế là đầu mối lớn nhất sinh ra vạn vật, là đức tốt lành lớn nhất chở che và bảo tồn vạn vật.
Khi hành lễ vía Trời vào ngày mùng 9 tháng Giêng, người đạo Cao Đài tự nhắc nhở mình hãy học và thực hành sứ mạng đại thừa theo lời Đức Mẹ dạy:
“Các con ôi! Như các con đã hiểu, mùa xuân là một mùa trong bốn mùa ứng với lý Đạo, là nó ở vào đạo Kiền, đức của nó là đức Nguyên. Nguyên là khởi đầu, là nơi phát xuất sự sinh tồn cho muôn loài vạn vật. Vậy thì các con hưởng xuân, vui xuân, chúc xuân, không cứ là một mùa xuân ngắn ngủi hạn định như cánh mai kia, mà để nhắc nhở, khêu gợi cho các con một tấm lòng xuân trường cửu của đạo lý, của đức Nguyên trong bốn đức, của một mùa trong bốn mùa.
“Mùa xuân chỉ cho sự phát sinh sức sống cho vạn loài, không giới hạn, không đóng khung vào một hoàn cảnh, một thời gian nào, vì Đạo theo đức Nguyên là thể hiện được lòng Trời, thương yêu dưỡng dục chan hòa mọi kẻ mọi nơi, không riêng tư, không cá biệt, làm cho thiên hạ nên, mọi người được yên ổn mà không thấy mình là kẻ tạo nhân hay ân nhân của thiên hạ.
“Các con là những sứ mạng mà Mẹ đã phó giao từ những xuân rồi. Hãy thể theo mùa xuân vĩnh cửu của đức Nguyên ấy mà hành đạo độ đời. Các con xem mình là mùa xuân, là đạo chan hòa khắp cả thế nhân mà không còn thấy có mình nữa.”[14]
Ý nghĩa chọn tháng Giêng làm lễ vía Trời
1. Tháng Giêng là tháng Dần , ứng với con người
Đời vua Hán Vũ Đế năm 104 trước Công Nguyên đã theo lịch nhà Hạ (2205-1766 trước Công Nguyên) gọi tháng Giêng là tháng Dần. Kinh sách xưa truyền rằng: Trời lập ở Tý, Đất lập ở Sửu, Người sinh ở Dần.[15] Chọn ngày vía Trời vào tháng Giêng hay tháng Dần ứng với con người hàm ngụ ý nghĩa Thượng Đế và con người có tương quan (Trời chẳng xa người) hay là Thiên nhân hiệp nhất. Đức Chí Tôn dạy:
Con là một thiêng liêng tại thế,
Cùng với Thầy đồng thể linh quang.[16]

Đức Chí Tôn còn dạy:
“Các con khá biết rằng Thầy hằng nói Thầy là các con, các con tức là Thầy. Có Thầy mới có các con, mà có các con rồi mới có chư Tiên Phật, Thánh Thần, thì người là tiểu thiên địa. Điểm linh quang nào muốn tạo Phật tác Tiên cũng phải đầu thai vào thế giới hữu hình vật chất. Dầu cho một vị Đại La Thiên Đế giáng trần đây không tu luyện cũng khó mong trở lại.” [17]

Khi hành lễ vía Trời vào ngày mùng 9 tháng Giêng, người đạo Cao Đài tự nhắc nhở mình hãy nhớ tương quan giữa Trời và người, cố gắng tu học và hành đạo để giải thoát đúng như lời Đức Đại Tiên Lê Văn Duyệt dạy:
Tu hành là học làm Trời,
Phải đâu kiếp kiếp làm người thế gian.
2. Tháng Giêng ứng với quẻ Địa Thiên Thái 地天泰

Quẻ Thái mang ý nghĩa tốt lành, hanh thông (suôn sẻ). Quái từ quẻ Thái viết: Thái: cái nhỏ đi khỏi, cái lớn tìm đến, tốt lành, suôn sẻ [18]

Quẻ Thái còn mang ý nghĩa trời đất giao cảm, muôn vật hòa hài, trên dưới tương giao thông cảm và chí hướng không trái nghịch nhau.
Khi hành lễ vía Trời vào ngày mùng 9 tháng Giêng, người đạo Cao Đài tự nhắc nhở mình hãy nhớ ý nghĩa của quẻ Thái để trong khi đến thánh sở tu học và hành đạo, làm công quả, mỗi người ý thức giữ gìn hòa khí để việc đạo được thông suốt. Đó cũng là điều Đức Chí Tôn hằng mong đợi ở đàn con:

Chẳng quản đồng tông mới một nhà,
Cùng nhau một Đạo tức một Cha.
Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi,
Dạy lẫn cho nhau đặng chữ hòa.[19]
Ý nghĩa chọn ngày mùng 9 làm lễ vía Trời
Dịch học chia ra số âm gồm các số chẵn (ngẫu) 2, 4, 6, 8, 10; các số dương gồm số lẻ (cơ) như 1, 3, 5, 7, 9. Số 9 là tổng số của ba số dương (1+3+5) và là số dương lớn nhất nên số 9 còn gọi là lão dương. Số 9 được xem là số hoàn hảo, tốt đẹp nhất. Ngày xưa vua gọi là đấng cửu trùng, chỗ vua ngồi gọi là ngôi cao chín bệ (cửu trùng ). Chọn ngày 9 làm lễ vía Trời hàm ngụ ý nghĩa Trời là vua của càn khôn vũ trụ và Trời là đấng hoàn thiện, hoàn hảo.
Khi hành lễ vía Trời vào ngày mùng 9 tháng Giêng, người đạo Cao Đài tự nhắc nhở mình hãy nhớ chỉ có Trời mới hoàn thiện, hoàn hảo. Trái lại, còn là con người thì còn lầm lỗi, dễ gây tổn thương cho nhau.
Do đó hằng ngày cúng thời, đọc Ngũ Nguyện tới câu “Tam nguyện xá tội đệ tử”, người đạo Cao Đài tự nhắc nhở mình hãy nhớ lời dạy của Đức Giáo Tông Ban Chỉnh Đạo Nguyễn Ngọc Tương:
Trước tiên chúng ta phải xá tội chúng sanh, khoan dung, đại độ, từ ái, tha thứ và xá tội kẻ khác, Thượng Đế mới dễ xá tội cho ta.” [20]
Ý nghĩa chọn giờ Tý làm lễ vía Trời
Giờ Tý của một ngày tương ứng với quẻ Địa Lôi Phục , đó là giờ Nhất dương sinh, một hào dương (cái thiện) phát sinh và bớt một hào âm (bớt một cái xấu).

Về mặt đạo đức hay tu thân lập hạnh, quẻ Phục liên quan tới sự sửa chữa lỗi lầm bản thân để trở về con đường chính đại quang minh.

Về mặt triết lý, quẻ Phục liên quan tới ý nghĩa phục hồi nhân bản tức là làm lại giá trị của con người vốn đã bị tham dục làm cho hư hao, mất mát.

Về mặt đạo pháp, quẻ Phục liên quan tới việc tu thiền để phục hồi bản vị con người tức là Thượng Đế tính.
Hiểu như thế, mỗi khi hành lễ vía Trời vào ngày mùng 9 tháng Giêng, giờ Tý, người đạo Cao Đài tự nhắc nhở mình hãy nhớ ý nghĩa của quẻ Phục để phục hồi cho mình cả ba phương diện đạo đức, triết lývà đạo pháp như nói trên.
Đó cũng là thực hành con đường chân lý mà Đức Chí Tôn đang mở ra cho nhân loại Kỳ Ba. Con đường đó đã được Đức Đại Tiên Lê Văn Duyệt xác định như sau:
“Thượng Đế Chí Tôn đã mở con đường cho nhân loại trở về với Thượng Đế – Con người cho thiệt con Người.” [21]
* * *
Tóm lại, không phải ông Trời sinh ra ngày mùng 9 tháng Giêng. Tuy nhiên giờ Tý ngày mùng 9 tháng Giêng được Thánh Nhân xa xưa lựa chọn để làm lễ kính mừng ngày vía Trời bởi vì những thời điểm về giờ, ngày, tháng, mùa đều ẩn tàng ý nghĩa đạo lý thâm sâu. Qua việc tìm hiểu các ý nghĩa đó, người tu có thể đem ứng dụng vào việc tu thân, hành đạo để tiến hóa từ phàm nhân thành một bậc thiêng liêng, tiểu linh quang trở về với Trời là Đại Linh Quang.
16.11.2007
Bổ túc 26.8.2011
HUỆ KHẢI
(trích trong "Một Góc Nhìn Văn Hóa Cao Đài", Nxb Tôn Giáo 2011, tr. 113-124)


* Bài nói chuyện tại thánh tịnh Ngọc Điện Huỳnh Hà, 18.00 giờ, 07-10 Đinh Hợi (Chủ Nhật 16-11-2007). Một phần bài viết đã đăng nguyệt san Công Giáo Và Dân Tộc, số 157 (Xuân Mậu Tý, tháng 01-2008).
[1] Huỳnh Tịnh Paulus Của. Đại Nam Quấc Âm Tự Vị. Tome II. M-X. Sài Gòn: Imp. Rey, Curiol & Cie, 1896.
[2] Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, 09-01 Quý Sửu (11-02-1973).
[3] Tòa Thánh Châu Minh, 09 rạng 10-01 Canh Tuất (15-02-1970).
[4] : “, . , , , .” Minh Vương Quỳ Lãi Hải Tập ký tái: “Thần minh giáng đản, dĩ nghĩa khởi giả dã. Ngọc Đế sinh ư chính nguyệt sơ cửu nhật giả, dương số thủy ư nhất, nhi cực ư cửu, nguyên thủy yếu chung dã.” (Dẫn theo Lê Anh Minh)
[5]”: “, ; , .” . Minh Hoàng Đạo Chu đích Nguyệt Lệnh Minh Nghĩa: “Chính nguyệt sơ nhất nhật, thiên thần địa kỳ triều Tam Thanh Ngọc Đế; sơ cửu nhật, Ngọc Hoàng Đại Đế thánh đản.” Thanh Hoàng Thích đích Nguyệt Lệnh Chú Giải dã hữu loại tự ký tái. (Dẫn theo Lê Anh Minh)
[6] http://www.ntl.edu.tw/publish/publish.asp?pid=50&mkey=617.
[7] Why the ninth day of the first month? The date probably reflects the ancient significance of the number 9.
According to the I Ching, the oldest known book expressing the dialectical philosophy of the Chinese, the evolution of all forces undergo 9 phases. Whereas the number 1 signifies the first step of a positive movement, the number 9 marks the highest point of any evolution. After the completion of a full cycle, forces return to a new starting point.
By this logic, the last day of the first nine-day cycle of the new year marks the day of the Sky-God, or God of Heaven. When the Jade Emperor became identified as the God of Heaven, his “birthday” was also deemed to fall on this day.
(http://www.xiaoen.org/cultural/magazine...)
[8] Đông Chí tự Thiên vu Nam Giao, Hạ Chí tự Địa vu Bắc Giao. Cố vị tự Thiên Địa vi Giao. , . . (Dẫn theo Lê Anh Minh)
[9] Theo bài viết của Paul Boudet, Giám Đốc Nha Lưu Trữ Và Thư Viện Đông Dương, viết tháng 3-1942 gửi cho Indochine Hebdomadaire Illustré (Tuần Báo Đông Dương Minh Họa), với nhan đề “Le Nam Giao, Sacrifice au Ciel et à la Terre” (Nam Giao, Lễ Tế Trời Và Đất). Bài báo này nằm trong hồ sơ số 2148 của phông tài liệu lưu trữ “Nha Lưu Trữ Và Thư Viện Đông Dương” của Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I (Cục Văn Thư Và Lưu Trữ Nhà Nước).
(http://icd.dienbien.gov.vn/diendan/archive/index.php/t-965.html.)
[10] Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, 15-01 Đinh Tỵ.
[11] Theo Hương Hiếu, Đạo Sử Xây Bàn, quyển 2 (1925-1929).
[12] Đoạn thánh ngôn này chỉ khác vài chữ so với bài thánh giáo ngày 12-12 Kỷ Tỵ (11-01-1930) in trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, quyển 2 (bản in 1966, tr. 69).
[13] Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Thánh Giáo Sưu Tập Năm Mậu Thân Và Kỷ Dậu (1968-1969). Hà Nội: Nxb Tôn Giáo, 2010, tr. 230.
[14] Thánh tịnh Ngọc Minh Đài, 01-01 Tân Hợi (27-01-1971).
[15] Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, Nhân sinh ư Dần. , , .
Khi chắp tay tín đồ đạo Cao Đài để đầu ngón cái bàn tay trái bấm vào chân ngón áp út bàn tay trái (cung Tý, phần Trời) rồi quặp bốn ngón kia lại thành nắm tay; bàn tay phải bao bên ngoài nắm tay trái, đầu ngón cái bàn tay phải bấm vào chân ngón trỏ bàn tay trái (cung Dần, phần Người).
[16] Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Thánh Giáo Sưu Tập Năm Bính Ngọ Và Đinh Mùi (1966-1967). Hà Nội: Nxb Tôn Giáo, 2010, tr. 68.
[17] Đại Thừa Chơn Giáo. Hà Nội: Nxb Tôn Giáo: 2011, tr. 152. (Quyển số 36 trong Chương Trình Chung Tay Ấn Tống Kinh Sách Cao Đài.)
[18] Thái: tiểu vãng đại lai, cát hanh. : , ,.
[19] Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.
[20] Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Thánh Giáo Sưu Tập Năm Bính Ngọ Và Đinh Mùi (1966-1967). Hà Nội: Nxb Tôn Giáo, 2010, tr. 283.
[21] Thánh tịnh Ngọc Minh Đài, 10-5 Nhâm Tý (20-6-1972).

Ngày Vía Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU


DIÊU TRÌ KIM MU
          BÀI THUYẾT ĐẠO ĐÊM 14 THÁNG 8 NĂM GIÁP THÌN
TẠI TAM GIÁO ĐIỆN (MINH TÂN)
  Ngày Vía Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU
          Trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có hai ngày lễ quan trọng nhứt:
   - Một là ngày Vía Trời hay Vía Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ vào ngày Mồng 9 tháng Giêng âm lịch.
   - Hai là ngày Vía Đất hay Vía Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU nhằm ngày tiết Trung Thu Rằm tháng 8 âm lịch.
Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ thuộc tượng CÀN (Càn vi Thiên) và trong Bát Quái Tiên Thiên (
1) tượng Càn đứng số 1 cho nên ngày vía NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ cũng cử hành vào tháng thứ nhứt hay tháng Giêng của mỗi năm âm lịch.
Còn Đức KIM TRÌ KIM MẪU thuộc tượng KHÔN (Khôn vi Địa) đứng số 8 cho nên vì lẽ đó ngày viá Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU được cử hành vào tháng 8 âm lịch.
Kinh cúng trong dịp ngày lễ Đức DIÊU TRÌ KIM MẪU có câu:
“ Trung Thu tháng Tám đêm rằm,
Là ngày Đức Mẹ giáng lâm cõi trần”.
Thiết tưởng chúng ta cũng cần hiểu rõ tại sao lại gọi DIÊU TRÌ KIM MẪU là “Đức Mẹ” và ngày lễ vía của Ngài có ý nghĩa gì ?
I. DIÊU TRÌ KIM MẪU VÔ CỰC TỪ TÔN là ai ?
Theo Vũ Trụ Quan của Đạo CAO ĐÀI thì trước khi tạo sanh Trời Đất trong cõi không gian còn ở trong tình trạng hỗn độn: chỉ có đám bụi Hồng Mông mịt mịt mờ mờ bao phủ với hai năng lực tiềm tàng, một cái nguyên lý tuyệt diệu, tuyệt huyền gọi là Thái Hư và một cái là nguyên khí tự nhiên gọi là Vô Cực.
Thái Hư và Vô Cực được gọi chung là Khí Hư Vô, và Hư Vô chi khí là Đạo.

Hữu vật hỗn thành (nghĩa là) :
Có vật hỗn độn mà nên
Tiên Thiên Địa sanh  “
Sanh trước Trời Đất
Tịch hề liêu hề   “
Yên lặng trống không
Độc lập bất cải  “
Đứng riêng mà không đổi
Châu hành nhi bất đãi  “
Đi khắp mà không mỏi
Khả dĩ vị thiên hạ mẫu “
Khả dĩ là Mẹ thiên hạ
Ngô bất tri kỳ danh  “
Ta không biết tên cái đó
Tự chi viết Đạo  “
Gọi đó là Đạo
Cưỡng vi chi danh viết Đại “
Gương cho là lớn.
Cái vật hỗn độn có trước Trời Đất là Khí Hư Vô (gồm hai năng lực Thái Hư và Vô Cực như nói ở trên). Sở dĩ khí Hư Vô là Mẹ thiên hạ vì theo Kinh Đại Thừa Chơn Giáo, cái Hư và cái Vô tức Lý, Khí lâu đời nhiều kiếp ngưng kết với nhau thành một Thánh Thai gồm tụ tất cả các tinh hoa trong Vũ Trụ rồi Thánh Thai ấy nổ tung làm xuất hiện Đấng Hoàng Thiên tức là Ngôi Thái Cực. Rồi Thái Cực mới tạo dựng nên Trời Đất muôn vật.
Có nhiều người tưởng lầm Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn là Hư Vô chi khí đã sanh ra ngôi Thái Cực, nhưng thật ra trong buổi hỗn độn sơ khai chưa có một Đấng Thiêng Liêng nào cả mà chỉ có LÝ và KHÍ,
nghĩa là những năng lực để tạo ra Linh Thần và Sự sống.
Trong kinh Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Đức Chí Tôn có cho biết:
Khí Hư Vô sanh có một Thầy. Nếu không Thầy thì không có chi trong Càn Khôn Thế Giới này, mà nếu không có Hư Vô chi khí thì không có Thầy”.
Do đó, Đấng Thiêng Liêng đầu tiên xuất hiện trong không gian là Thái Cực Thánh Hoàng. Ngôi Thái Cực tập trung tất cả các tinh hoa của Vũ Trụ có đủ âm dương, thủy hỏa phát hiện dưới ba bản thể khác nhau là:
  1. HUYỀN KHUNG CAO THƯỢNG ĐẾ làm chủ chơn Tánh thuộc Lý và tạo ra Chơn Như.
  2. DIÊU TRÌ KIM MẪU làm chủ chơn Tình (thuộc Khí).
  3. HỒNG QUÂN LÃO TỔ do chơn Tánh, chơn Tình hiệp thành làm chủ Trí Huệ và cái Đạo sinh hóa. (Hòang Cực)
Sở dĩ phát hiện ra ba cái bản thể của ngôi Độc Nhứt vì Thái Cực vận chuyển sanh Lưỡng Nghi rồi hiệp Lưỡng Nghi biến thành Tứ Tượng. Thành ra Diêu Trì Kim Mẫu là Lưỡng Nghi (âm dương).
Điểm này được nói rõ như sau trong Diêu Minh Kinh:
Vận Thái Cực Lưỡng Nghi sanh hóa,
Tứ Tượng phân mối cả Đất Trời;
 Cân phân có Đạo có đời,
 Diêu Trì Kim Mẫu tức thời âm dương.
Giải nghĩa danh từ từng chữ thì DIÊU là vi diệu, TỪ là ao, KIM MẪU là bà Mẹ ở Tây Phương. VÔ CỰC ám chỉ các bản thể nguyên khí, TỪ TÔN là bực Tổ đầy lòng hiền ái. Thành ra danh từ Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn ngụ ý cái nguồn gốc linh khí vi diệu ở cõi Tây Phương Cực Lạc đã tạo ra sự sống tình cảm của chúng sanh và do đó, là Mẹ linh hồn luôn luôn thương xót và dẫn dắt chúng sanh về con đường tình cảm cao thượng chơn chính để thoát khổ nạn.
Bởi thế cho nên trong Ngọc Minh Kinh có câu:
 “Ác vàng xế cơ Trời tương khắc,
 Vẫn Đông Tây Nam Bắc ly kỳ;
 Tây Cung Kim Mẫu Diêu Trì,
 Độ siêu linh dục, thoát ly khổ nàn.”
Nghĩa là đến buổi đời Mạt Kiếp như trời chiều ác xế, ngũ hành tương khắc gây ra các tai họa dữ dằn thì Đức Diêu Trì Kim Mẫu bố điển linh độ cho nhơn loại biết cải tà qui chánh hướng thượng mà tránh khỏi cuộc thương hải tang điền.
Người tu hành thường nói Trời Cha, Đất Mẹ, để ám chỉ Thượng Đế và Diêu Trì Kim Mẫu. Đức Thượng Đế ban chơn như để gây sự sống, và tạo ra linh hồn chúng sanh, còn Đức Diêu Trì Kim Mẫu ban linh khí để nuôi dưỡng sự sống của mọi vật, từ thể chất đến linh hồn. Sự kiện này có thể chứng minh bằng toán pháp là một khoa học có ý nghĩa huyền bí vì tượng trưng muôn vật trong Càn Khôn Vũ Trụ bằng những con số.
Đầu các con là số dê-rô (số không 0) tượng trưng cho cái Hư Vô trong buổi hỗn độn sơ khai. Sau số không đến số 1 là Hư Vô sanh ra Lý đơn nhứt hay Ngôi Thái Cực. Rồi do sự vận chuyển, số 1 mới biến ra 2,3 và tạo sanh ra muôn muôn vạn vạn số.
Tất cả các con số đều chứa 1 và 2, tức là mỗi chúng sanh đều thọ bẩm cái Chơn Như của Thượng Đế (số 1) và cái Chơn Khí của Diêu Trì Kim Mẫu (số 2).
Do đó tất cả chúng sanh tượng trưng bằng số đều là con của Thượng Đế và Diêu Trì Kim Mẫu và cũng vì lẽ đó mà ta gọi Kim Mẫu là Đức Mẹ.
Số chẵn tượng trưng cho Nữ Phái chia được với số 2, ám chỉ nữ phái thọ bẩm phần chơn khí tình cảm của đức Diêu Trì Kim Mẫu rất nhiều. Còn những số lẽ tượng trưng cho Nam Phái chính là số chẵn gia thêm 1 (2 + 1), nghĩa là có trội hơn nữ phái phần lý trí của Thượng Đế ban cấp (1), nhưng thiếu tình cảm hơn phái nữ.
Vì thế cho nên Đức Diêu Trì Kim Mẫu khi giáng cơ chú ý dạy nữ phái hơn là nam phái cũng như thể là Mẹ hiền thường lưu luyến với các ái nữ hơn là với các con trai.
II._ Ý NGHĨA NGÀY VÍA DIÊU TRÌ KIM MẪU:
Một khi chúng ta đã nhìn nhận được có Bà Mẹ linh hồn ở trong cõi vô hình xuống cõi trần để bố điện cho tâm linh ta bớt sôi nổi trên trường danh lợi đấu tranh và biết tô bồi thâm hạnh đức cao siêu, thì ta cũng cần phải tìm hiểu ý nghĩa của ngày Vía Đức Mẹ trong dịp Trung Thu.
Tiết Trung Thu thuộc quẻ Phong Địa Quan vì chuỗi thời tiết trong 12 tháng âm lịch thì đi theo sự luân chuyển của lục âm lục dương. Quẻ Phong Địa Quan ám chỉ thời gian cả thịnh của khí âm đang lấn át khí dương để dẹp hết những cái nóng nảy oi bức và đem lại cảnh mát mẻ êm dịu trong Trời Đất. Chữ QUAN (đúng ra đấy là QUÁN) có nghĩa là ngắm, ở dưới ngắm nhìn lên trên khi cái dương còn có hai hào đã hết gắt gao thành trong sáng dịu dàng. Cho nên đêm thu trời trong trăng sáng khiến cho con người ưa ngẩn nhìn lên cõi bao la để thưởng thức cảnh đẹp đẽ của Trung Thu trăng tỏ. Lúc đó cũng là lúc có một nguồn chơn khí diệu huyền đem sự mát mẻ êm dịu chan rưới xuống thế gian, để làm cho tâm tình con người tươi mát lạc quan.
Nguồn chơn khí diệu huyền đó là Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn, Đức Mẹ linh hồn của chúng sanh.
Thành ra ngày Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu mà khắp nơi trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ cử hành rất trọng thể là một ngày lễ bao hàm ý nghĩa đón tiếp một lực lượng thiêng liêng huyền bí đến trong tâm hồn mỗi người để làm cho tiêu tan những mối sầu bi uất hận và đem lại một tâm tình êm dịu hòa ái, hàn gắn lại những hố chia rẽ giữa người và người.
Vậy đối với các anh chị em trong Cao Đài Giáo đã cùng nhau làm lễ tiếp rước Đức Mẹ Diêu Trì Kim Mẫu trong dịp lễ Trung thu này, trước cảnh đời đang biến chuyển đến chỗ Liên Tôn, chúng ta hãy nhứt định hưởng ứng luồng điển thiêng liêng mà Đức Mẹ chan rưới cho các con để mở thêm tình thương yêu và mạnh tiến đến chỗ đoàn kết qui nguyên thực sự hầu Đạo Cao Đài có thể đứng ra làm gạch nối giữa chư giáo phái và sớm đem lại sự liên hiệp giữa đồng bào.
Ngày 14 tháng 8 năm Giáp Thìn (1964)
CHƠN TÂM
Theo Bát Quái Tiên Thiên thì Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, và Khôn 8.