Từ xưa đến nay chư Phật, chư Tiên, chư Thánh đều lấy lòng từ bi độ người mà lập công đức, lấy sự qui giới háo học mà hành trì, lấy sự quyết phá phàm tình chẳng đắm hồng trần làm thượng trí, lấy sự phỏng cầu chơn sư chỉ phép tu tâm dưỡng tánh làm đắc đạo, lấy sự thanh tâm quả dục (sạch tấc lòng, ít tình dục) luyện kỷ trúc cơ làm hạ thủ, lấy phép hạ thủ tiên thiên nhứt khí, chơn dương thượng thăng làm đắc dược (đặng thuốc kim đơn), lấy sự kiền khôn giao cấu, Thủy Hỏa Ký Tế làm phanh luyện (nấu luyện), lấy kim mộc bình phân (mỗi món 8 lượng gọi là bình phân) làm ôn dưỡng (nuôi nấng), lấy diên Càn Hống tận (thủy ngân khô châu sa ráo) suốt đủ châu thiên làm thối phù, lấy sự cần tu bất đãi (siêng trau chẳng trễ), lâu xa lòng mình làm khổ hạnh, lấy sự đơn thục hườn nguyên (kim đơn chín, trở lại gốc xưa) luyện kiết kim-thân làm thành đạo, lấy sự tích công lụy đức (lập âm chất) chờ chiếu son trên Thiên Đình triệu về làm chứng quả, lấy sự yết kiến chư Phật mà thọ chức, cùng cứu vớt Tổ-Tông làm đại hiếu, lấy lòng lo cho Trời Đất, ích lợi cho chúng sanh làm tận trung, lấy sự tầm thinh cảm ứng mà cứu khổ cứu nạn làm phương tiện, lấy sự chiêm ngưỡng của nhơn-thiên (dân Trời) trong ngoài ba cõi làm tôn vinh, lấy cái dịp phó hội Bàn Đào cùng liệt vị thượng thừa làm hiển diệu, lấy cái pháp luân thường chuyển (cái bánh xe phép thường xây) để độ tận chúng sanh làm liễu nguyện (mãn nguyện).
Vã lại hết thảy chư Phật Thiên Tôn đều là người phàm thành đạo. Những bật trí sĩ minh hiền sao chẳng cuối đầu mà suy xét cho đáo để điều ấy! Huống chi trong cuộc sanh tử luân hồi, kể chẳng xiết đều thê lương khổ sở, cải đầu hoán diện (sửa đầu người đổi mặt thú) đâu cần luận đến sự phú quí vương hầu, âm luật sum nghiêm, thưởng phạt vô tư, (thưởng phạt chẳng vì vua chúa cũng chẳng dễ nghèo hèn), lành siêu dữ đọa, xưa nay vẫn là vậy đó.
Người khôn phải biết hồi đầu cho sớm, đặng tu cho ra khỏi tam giới, cho đến thời kỳ liểu thủ là lúc công thành, thì khỏi bị nhốt trong ngũ hành, lại được tiêu diêu nơi vật ngoại, ngao du trong thiên phủ. Dầu đại kiếp có xảy đến, là khi Trời tan Đất rã, ta cũng chẳng lo chẳng sợ chi.
Hễ kiếm tìm xa rộng ra thì thấy rằng Phật Quan Âm Bồ Tát vốn là Tiên nữ Châu triều (triều nhà Châu) là một vị cổ Phật lâm phàm. Nhân khi thành đạo rồi, Phật bà có lời nguyện rộng sâu, mới ở lại trấn Nam-Thiệm Bộ-Châu, đặng thuyết pháp mà độ người lưu truyền quyển Tâm-kinh này, là cốt tủy của các thứ kinh, là chiếc từ-hàn (thuyền lành) để độ đời.
Nhưng tiếc thay! Từ xưa đến nay, nhiều kẻ tu hành cứ lo tụng niệm, ít người biết cái khiếu của kinh này đặng mà làm theo.
Ta có nghe thầy ta là Thối An Phu Tử nên hiểu rõ cái tánh cùng Thiên đạo. Đến khi xem kinh này thì thấy mỗi mỗi đều có ấn chứng, không có chỗ nào không hiệp, nên ta chẳng vì sự cô lậu mà chú giải cái tiết thứ của kinh này, để làm cây kim chỉ nam cho đơn đạo. Ai có Phật căn chưởng tử, thì tự mình phát nguyện bồ đề, do theo lời chú giải này mà tỉnh ngộ (thấy rõ) cái nhơn thân là giả vật. Tỉnh ngộ rồi thì tìm thầy chỉ điểm tánh mạng căn nguyên cho mà tu luyện, kiết đặng kim đơn xá lợi, chứng quả Vô dư Niết bàn, thiệt là chỗ hậu vọng của ta vậy.
Triều Đại Thanh, vua Gia Khánh, năm thứ 9, (Giáp Tý) trọng thu ngoạt (tháng 8) ký vọng (qua rằm rồi).
ĐẠO LÝ TRỰC LUẬNÔng Ngọc Sơn Lão Nhơn
Làm bài tựa này trong quán Dục Tài,
Ở đất Hàng Châu, núi Tử Dương. TIỂU DẪN
Nhân quyển thiệt-hành tam ngũ ra đời, tôi có lược luận đến việc tu đơn. Anh em đồng đạo nhiều người vì không thấy chi phân biệt chơn ngụy, nên tôi phải phiên dịch quyển Quan Âm Tâm Kinh bí giải để nêu chứng cớ.
Nhiều người tu tưởng tụng kinh mà thành Phật. Nay tôi học kinh, như xem đến lời bí giải của ông Ngọc Sơn Lão Nhơn, là người tu thành đạo, thì thấy rõ rằng kinh này cũng như các đơn kinh khác đều nói muốn thành Tiên tác Phật tức phải tu đơn.
Vậy anh em đồng chí muốn tu đơn cần phải xem nhiều thứ đơn kinh (1) tìm cho hiểu rõ ràng đạo lý rồi cầu chơn sư chỉ cho minh Đại Đạo, cho biết chừng nào hườn hư luyện kỷ mà đắc pháp, chừng nào dương sanh dược sản mà thể thủ phanh luyện, chừng nào chơn dương thượng thăng mà tấn hỏa thối phù, chừng nào kim mộc bình phân mà ôn dưỡng mộc dục, chừng nào là thời kỳ hành đại châu thiên mà hườn đại kim đơn, chừng nào là thời kỳ thoát thai thần hóa mà đại định, chừng nào là thời kỳ luyện tựu kim thân mà thành đạo, chừng nào là thời kỳ đãi chiếu phi thăng mà chầu chư Thiên.
Đọc kinh cũng như đọc sách, phải đọc đi đọc lại, dầu đến trên trăm lần mà chưa hiểu, cũng phải đọc hoài, đến chừng thấu lý mới thôi. Phép đọc kinh phải suy nghĩ từ câu từ chữ. Tiên Phật hay dùng dụ ngôn ẩn ngữ, nhưng chẳng có lời nói nào vô ích cả. Anh em đọc kinh như vậy mà học đạo, thì chắc có ngày thành tựu. Người nhập thất tu đơn cũng như tên học sinh vào trường thi. Trước khi vào trường thi, tên học sinh phải bát lãm quần thơ, mới có thể làm bài vở được, mới có thể đối đáp xong. Trước khi nhập thất người tu muốn tu đơn cũng phải bát lãm đơn kinh, hoặc phải có khẩu truyền tâm thọ, nhiên hậu tu đơn mới chắc thành công. Nếu manh tu hạt luyện (tu như đứa đui, luyện như thằng mù), thì luống công vô ích.
Sau này về việc mầu nhiệm của Quan Âm Tâm Kinh, tôi khỏi tán dương (tôi chẳng cần khen), vì anh em đồng đạo ai cũng chắc rõ là kinh tối thượng nhất thừa. Chư Phật đều nhờ đó mà minh tâm kiến tánh cũng như chư Tiên nhờ kinh Tham Đồng Khế Châu Dịch Kinh mà tồn tâm dưỡng tánh vậy. Thế thì tâm kinh cũng là cốt tủy của Phật thơ, cũng như Tham Đồng Khế là cốt tủy của đạo thơ, cũng như Châu dịch kinh là cốt tủy của Thánh thơ vậy.Bến Tre, le 30 Juin 1930.
Thiện-Pháp Cư-Sĩ
Mộc thủ kỉnh dịch ĐẠO LÝ TRỰC LUẬNTôi luận bài dưới đây chẳng phải cố ý kích bác chi việc người mà khen việc mình. Ý tôi muốn lấy lời minh chánh mà luận việc tu hành trong lúc này, cho những người háo thiện dòm xem: nhất là mấy người muốn tu bực tối thượng nhất thừa, đặng mà thành Tiên thành Phật hiển hiện tại thế gian này.
Nếu ai coi bài tôi luận, tưởng rằng có lý thì nương theo đó để tìm đàng chánh
(Chánh Đạo) mà vào cửa đạo; bằng ai gọi là phi lý thì bỏ qua tự ý.
Tôi chẳng dám ép ai phải nghe lời tôi, hoặc phải tin lời tôi luận mà làm theo.
Cái đạo tôi tìm đây chẳng có lạ chi: vì bấy lâu cửa Thiên Đình bế lại, nên khiến “đạo thơ” ít ai khảo cứu; cứ bỏ dưới đáy tủ của các chùa; vì mấy ông tu còn ở bực hạ thừa, cứ lấy bực hạ thừa mà dạy chúng sanh, nên không thấy ai từ ấy những nay mà thành Tiên thành Phật.
Một đều này rất tệ là: mấy ông đạo ăn lạt gọi mình rằng tu, không cho kẻ thế gian coi đơn kinh; cứ nói người ăn mặn không nên coi kinh tối thượng. Ấy là cố ý sợ người thế thấy chỗ bí mật mà người tu không làm được, rồi vấn nạn. Hoặc là lòng tư kỷ, sợ người có căn cao hành đạo, rồi hơn mấy ổng chăng.
Nên cửa đạo bế lại là tại vậy đó.
Tôi ra công tìm kiếm, tới ngày nay là gần hai mươi năm, hết sức cực nhọc mới đặng đạo thơ. Và tôi rán sức học chữ Hán đặng coi đơn kinh mà khảo cứu cho rõ việc tu hành. Tôi thiệt thấy rõ ràng trong các sách của “Tiền Bối” để dạy bậc tối thượng, đặng kẻ hậu lai coi đó mà làm Tiên làm Phật chẳng sai. Không có một mảy nói huyễn hoặc, thiệt rất chí lý. Chớ chẳng phải lập chùa, ăn chay, tụng kinh, lạy Phật mà về Thiên Đàng đặng. Duy có biết lọc cái linh hồn và luyện cái xác phàm của mình, (tánh mạng song tu)
rồi ngoài thân ta có một thân riêng rất nên trong sạch. Thân ấy là Tiên, là Phật đó.
Phật gọi “xá lợi thành hình, xuất thai thân vi Phật tử”. Tiên gọi là “Xuất dương thần”. (périsprit)
Muốn lọc cái linh hồn cho trong sạch; trước hết phải đừng cho nhiễm sự quấy;
hay là đã nhiễm sự quấy rồi thì mình phải gắng sức ăn năn chừa lỗi, linh hồn lần lần mới trong sạch.
Sau lo luyện kỷ (Luyện kỷ nghĩa là muôn việc đều bỏ hết).
Tập hườn hư (hườn hư là lục căn bế lại) cho đến chừng hư cực tịnh đốc chi thời (calme absolu).
Trong lúc này nếu gặp chơn sư truyền chỉ phép luyện cái “huệ mạng” của mình thì mới có ngũ sắc tường vân, đặng hiệp với Tiên Thiên của Trời thì về Thiên đàng mới đặng (Ngũ sắc tường vân là tiên thiên khí). Bằng chẳng làm như vậy, dầu có tọa thoàn tu một mình cái linh hồn sau xuất âm thần thì làm âm binh chi quỉ, chớ không ra khỏi vòng luân hồi đặng.
Ngũ sắc tường vân đó bởi cái chơn tinh con người mà luyện ra. Dùng phép hóa học mà luyện ra tiên thiên khí vô hình. Tỷ như đặc rượu mà lấy hơi vậy.
Nên Phật gọi là “Cam lồ thủy” Tiên gọi là “Quỳnh tương tửu” hay là rượu “đề hồ”.
Thân con người nhờ vật thực, nhất là loài ngũ cốc hóa ra huyết, huyết lại hóa ra tinh, gồm sự quí báu mà nuôi cái xác phàm này.
Vật ấy là thuốc trường sanh cho nên con người tinh còn thì sống, tinh kiệt thì chết.
Người phàm bởi chỗ nhơn dục chưa nhàm, cứ lo tranh đoạt danh lợi, kiếm chước đầy mưu kia cho đặng sung sướng cái thân tạm này, mà chẳng biết cái thân tạm ấy không bao lâu hao mòn Tam Bửu (Tinh, Khí, Thần), thì hồn phải lìa xác đó.
Cũng như cây đèn cháy lụn, hết dầu phải tắt, tự nhiên ngươn thần,
ngươn khí, ngươn tinh tán ra hồng trần cho tận tuyệt, rồi linh hồn lìa xác.
Ba vật ấy là sự quí báu của con người, ngày nay rõ mối đạo rồi, thì phải làm sao mà cướp lại ba vật ấy của Trời Đất, đặng cho thân mình đầy đủ Tam Bửu như hồi còn nhỏ, thì là lý trường sanh của đạo.
Vậy mới gọi người đồng đứng trong Tam Tài: Thiên, Địa, Nhơn.
Việc tu hành làm Tiên Phật có ấn chứng, tại nhản tiền, chớ chẳng phải nói rằng người tu chết rồi mới được về Thiên Đàng. Nói vậy là nói huyễn. Lấy đâu mà làm bằng cớ. Nhiều người tu thác rồi, nào có thấy ai trở về mách bảo nói rằng lên được chốn Thiên Đàng đâu. Kẻ nào nói thác rồi mới về Thiên đàng ấy là kẻ nói gạt gẩm cho kẻ khác lầm. Bởi Đạo lý cao xa, không hiểu thấu, nên gắng gượng làm việc cầu may, thọ nhơn tước với nhau mà tranh cao tranh thấp. Người tu mà luyện không trúng cách thức của Tiên Phật dạy rõ ràng trong các Đơn Kinh, lại nói rằng chết rồi hồn trở nên Tiên Phật, thì người ấy cũng như xướng nhi trên hí đài (sân khấu) tự xưng là Hớn Cao Tổ, Sở Bá Vương, Quan Công Hầu vậy. Làm làm sao cho đặng thọ Thiên Tước, vậy mới chắc thành chánh quả.
Thiên Tước có 5 bậc, bởi chỗ công quả tu hành nhiều ít tùy theo đó mà chứng quả:
(1) Nhơn Tiên; (2) Địa Tiên; (3) Thần Tiên; (4) Thiên Tiên; (5) Đại Giác Kim Tiên (là Phật).
5 bậc này tu dương thần mới có ngũ sắc tường vân. Ba bậc trên là Kim Tiên, Thiên Tiên và Thần Tiên thì được phi đằng; còn Nhơn Tiên và Địa Tiên bởi hình thể còn trọng trược nên xuất dương thần chưa đặng. Nếu hai bậc này giữ được thần khí không hao mòn, thì được ích thọ diên niên trường sanh vô bệnh; bằng giữ chẳng đặng bị thần tùy khí tán, thì cũng phải chết như kẻ thường nhơn vậy.
Người phàm ai ai cũng con Trời, nếu hồi đầu hướng thượng, nghịch chuyển, thì làm Tiên làm Phật đặng. Còn cứ đi thuận hoài thì sanh nhơn vật.
Ấy là cơ Tạo Hóa đổi xây Thánh ra phàm, phàm ra Thánh là vậy đó.
Đạo không dấu ai miễn có lòng ăn năn theo đàng thiên lý, bỏ đường nhơn dục, đi nghịch thì mới về cõi Tiên cõi Phật đặng.
Cuộc đời như giấc mộng, như một đêm tại hí đài thượng. Mỗi người đều có một vai tuồng. Mãn vai tuồng thì rồi cởi lốt, qua đêm khác làm vai tuồng khác. Cứ vậy làm hoài. Ngàn sanh muôn kiếp không ra khỏi “trầm luân” này (cercle dé générations).
Gây tạo tiền khiên, trở lại đặng trả quả cho nhau (le karma ou loi de la causalité).
Nếu ai biết hồi đầu hướng thượng, quyết chí lo ra cho khỏi khí hậu thiên này, thì phải tu âm chất cho đầy đủ, cảm động Thiên tâm, thời có ngày gặp đặng chơn sư chỉ điểm cách tu cái “huệ mạng”
đặng tạo khí tiên thiên thì về Trời có khó chi. Ấy là lý làm Tiên làm Phật vậy.
Chớ chẳng phải nói tụng kinh, ăn chay, lạy Phật, cất chùa, mà Phật độ về thiên đàng đặng.
Vì đức Lục Tổ Huệ Năng có nói rằng: «Đản y thử tu, dữ ngô đồng xứ vô biệt,
bất tác thử tu, thí pháp xuất gia ư Đạo, hà ích?».
Nghĩa là các ngươi phải tu luyện như cách tu của ta, thì sẽ đặng thành Phật mà về một chỗ với ta, bằng chẳng tu luyện cách ấy, có cạo đầu vô chùa, nào có ích chi?
Trời muốn cho mỗi người hành đạo, đặng có về chốn Thiên Đàng là nơi thắng cảnh,
hưởng phước tiêu diêu.
Tại người phàm rõ cái máy thiên cơ trong mình, đặng lọc huệ mạng của mình, nên về Thiên Đàng không đặng.
Nay là lúc Đại Đạo phục hưng, ai có phước lớn thì gặp minh sư chỉ truyền tâm pháp mà tu luyện dương thần; còn ai thiểu phước bị manh sư thì phải té vào bàng môn giả dối.
Mất dịp này rất uổng cho thân sanh ta một thuở, mà ngàn thuở chưa biết có tái lại đặng chăng?
Bởi có lời giáng cơ của ông Huê Quang Đại Đế nói như vầy.Huê phát Tam kỳ đạo dĩ khai,
Quang minh tứ hướng thượng tam tài;
Đại phước kim đơn thân đắc ngộ,
Đế quân giáng hạ nhữ vô lai.
Vô tai khả tảo tu,
Diên trì thất công phu;
Chư nhu hành chánh Đạo,
Thượng thừa chí ngao du.
Ngao du tứ hải lạc Hi Di,
Thiện chí tu tâm phước hữu kỳ;
Luyện đạo, luyện đơn, duyên hống luyện,
Chơn tâm, chơn tánh đắc từ bi.
Từ bi chỉ giáo nể minh tâm,
Tường thức chơn cơ, vật ngoại tầm;
Tâm chánh liên hoa thân tảo ngộ,
Hữu căn phùng diệu cổ lai câm.
Lại ông Tào Quốc Cựu cũng có cho hai bài dưới đây:
Nhựt dạ công phu, nhựt dạ hành,
Kim đơn tảo vãn luyện nhi phanh;
Nhứt liệp minh châu tùy thời ngộ,
Càn Khôn thủy hỏa hữu thời thanh.
Đạo lý dĩ minh nể khả tàng (tường),
Xuất thân luyện Đạo phước nhàn an;
Diên trì hậu nhựt hà tu hối?
Ngộ chơn tảo tảo luyện thanh càn.
Tôi coi đơn kinh thấy lý đạo như lời tôi tỏ bày trên đó, nên mới dám khuyên chư tôn rán sức tìm những đơn kinh dạy làm những bậc tối thượng nhứt thừa, xem lấy thì cũng như tôi vậy.
Các thứ đơn kinh kể ra sau đây:
Kim Tiên chứng luận.
Tiên Phật hiệp tông.
Thiên tiên chánh lý.
Huệ mạng kinh.
Tiều dương kinh.
Huê nghiêm kinh.
Trực chỉ huyền châu.
Đạo thơ thập nhị chưởng.
Lục Tổ bửu đàn kinh.
Tánh mạng khuê chỉ.
Quan Âm bí giải. (dịch rồi)
Xiển pháp chơn ngôn.
Huyền vi tâm ấn kinh.
Xuất tánh xiển vi.
Xích thủy ngân.
Lăng Nghiêm kinh.
Huyền diệu cảnh. (dịch rồi)
Ngộ tánh cùng nguyên.
Kim cang kinh chơn giải. (dịch rồi)
Ngộ chơn thiên.
Tham đồng khế.
Dưỡng chơn.
Vô căn thọ, Tư huê đề.
Chánh đạo linh chơn kim đơn ngoại cảnh.
Chánh đạo linh chơn kim đơn nội cảnh.
Thiên tiên chánh lý độc pháp điểm tình.
Thái Thượng thập tam kinh.
Lữ Tổ toàn thơ.
Ấy là mấy thứ kinh tôi đã thấy, chớ còn kinh chi cao nữa thì chưa thấy; nếu ai có tìm đặng kinh cao hơn nữa, xin tỏ bày cho bọn tôi xem, đặng minh đạo lý, thì sự ấy rất dày âm chất đó.
Mấy tạng kinh nói trên đó chỉ là phép tu luyện, có họa đồ, có hỏa hậu.
Song le coi kinh phải suy xét cho nhiều, vì nhiều lời Tiên Phật hay nói ẩn, đợi kẻ đại căn đạt lấy mà thông sự lý.
Cũng như Đại học Trung dung của Nho làm ra, nói nhơn đạo mà thiên đạo ẩn ở trong đó.
Những lời huyền diệu của đức Khổng Tử di ngôn cho các môn đồ của ngày đều ở trong hai sách ấy.
Qua đến đời ông Mạnh Tử thì đạo bế lại, không có người ra gánh mối đạo nỗi,
đặng làm bậc tối thượng mà siêu phàm nhập Thánh.
Lúc này là buổi Tiên Thánh lâm phàm mà độ nguyên nhơn. Con đò Bác Nhã (là đò Phật để độ chúng sanh qua biển khổ) đã lố ra ba bốn năm rồi đợi tiếp dẫn những người thiện duyên.
Nếu ai tới bến đò sớm, thì có người tiếp rước liền, chẳng luận sang hèn quyền quí hay là hạ tiện, trọng kẻ đạo đức cao dày mà thôi.
Vậy nếu ai có chí tu hành, hoặc có đại căn phải lo tu luyện cho sớm, chớ để đại tai đến thì ngọc đá khó phân.
Vì có hai bài của Đông Phương Sóc xuống cơ như vầy, trong năm 1923 tháng 8.Đông, Tây,Nam, Bắc nhập Trung ương,
Hắc, xích, thanh, huỳnh bạch hỏa xương;
Thiên Địa đảo điên, nhơn vật hoại,
Càn Khôn chuyển động, chúng dân ương.
Tu tâm tỉnh chí phân tam khí,
Luyện tánh minh tinh hiển tứ phương;
Thoát tục ly tai, thân vĩnh lạc,
Bất tri cơ chánh, bất an khương.
Hữu hạnh chư-nhu ngộ đạo huyền,
Phật Tiên chỉ dẫn luyện tiên thiên;
Bác-nhã linh thoàn kim dĩ lộ,
Hà do bất học, hựu thiên diên?
Đời này nhiều sự tai biến lắm, nên phải gấp gấp tu hành Chánh Đạo. Song le phải có chơn sư chỉ cách thức tu luyện huệ mạng mới đặng. Đừng để cho manh sư (thầy mù) dắt vào hang sâu vực thẫm mà chôn lấp kẻ thiện tín vô số, thì rất uổng công chúng ta ngày nay gặp dịp tốt, là lúc Đại Đạo phục hưng, mà mình nắm mối đạo không đặng. Người tu hành chẳng nên lấy sự quả vị cao thăng mà gọi mình tu. Phẩm vị là bề ngoài của nhơn đạo, hay lo đua tranh cho thiên ha tùng phục đó mà thôi. Người tu bậc tối thượng phải ly gia cắt ái, xa lánh chốn thị thiền, thanh tâm quả dục, đoạn thất tình, chẳng nên lo việc nước việc nhà, chẳng nên làm đoàn thể gọi rằng dìu dắt độ người. Phải tìm nơi thanh tịnh đặng tịnh dưỡng cái linh hồn; thì một ít lâu máy thiên cơ mới phát động. mau thì bảy ngày, lâu thì mười bốn bữa. Nhơn dục tịnh tận, thiên lý lưu hành trong lúc đó mới rõ nguồn Tiên nẻo Phật mở khai; song le phải có chơn sư chỉ phép tắc lấy thuốc trường sanh (kim đơn) mới đặng. Nếu không gặp chơn-sư thì rán xem xét đơn kinh cho chí lý, làm y cách dạy trong sách ấy, thì cũng tròm trèm như là có chơn sư chỉ bày. Lần lần phát minh theo cũng kịp đặng. Vì đơn thơ một cuốn chỉ lộ ra một đoạn, chớ một cuốn không nói cho cùng lý. Cách thức hỏa hậu phải coi nhiều cuốn mà ráp lại mới thành y theo hỏa hậu của Tiên Phật. Noi theo đó mà luyện thì chắc được thành Tiên thành Phật.
Kinh điển tuy đặt ra cho nhiều, là cố ý mở tâm con người cho hiểu xa rộng thấy, chớ lý đạo chẳng ra khỏi âm dương nhị khí: một cái thanh một cái trược mà thôi. Biết cách khử trược lưu thanh, thì mình khinh phù, còn không rõ lý dinh hư tiêu trưởng, để cho hết thanh rồi tồn trược, thì ngưng lại chìm xuống lóng cặn, thì phải ở trong vòng hậu thiên mà thôi.
Nếu không phân rõ cách vận chuyển âm dương, nếu không biết cách lọc thanh bỏ trược,
dầu đạo nào có xưng là chánh cũng không thế chi mà về Thiên Đàng đặng.
Bất quá nói huyễn dụ chúng gạt người theo cho đông đặng cầu danh cầu lợi mà thôi.
Biết cái máy thiên cơ này, dầu theo đạo nào làm cũng đặng. Chổ về đàng cả làm theo lẽ tự nhiên, không can phạm chi đến điều luật riêng của các mối Đạo. Cho nên đức Thái Thượng đạo Tiên, luyện cái máy này mà về Tiên Bang; đức Thích Ca đạo Phật, luyện cái máy này mà đến Niết Bàn, đức Khổng Thánh luyện cái máy này mà siêu phàm nhập thánh, đức Jésus luyện cái máy này mà bạch nhựt thăng Thiên. Các vì Tiên, Phật, Thánh khác cũng nhờ luyện cái máy này mà về cõi Tiên cõi Phật cõi Thánh. Việc phàm trần cũng thấy lý đạo mà bày ra. Chẳng luận là máy chi cũng phải dùng âm dương thủy hỏa và ngũ hành mà chế tạo.
Tôi đây chẳng ưa danh mến lợi, song ở phàm trần ai cũng phải lo một đoạn hồng trần. Vì có cha mẹ vợ con nên trước phải lo cho tròn chữ hiếu chữ nghĩa, kế phải lo cho nhơn quần xã hội, rồi mới lần qua Thiên-đạo được. Lòng quyết chí lo nhơn đạo cho xong. Cố ý liều cái thân phàm này, ra công gắng sức làm Đạo cho rõ ràng, đặng kẻ đồng chí biết làm Tiên làm Phật có ấn chứng mà noi theo. Xong nhơn đạo còn ràng buộc, bức rức trong lòng muốn đi cho gấp mà chưa đặng. Bởi tôi thấy kẻ tu hành làm huyễn, nên gia công gắng sức tìm cho ra mối Đạo, mới thấy sự mầu nhiệm của Trời. Chớ chẳng phải làm việc cầu may nói xàm đặng khoe danh với thiên hạ. Cũng chẳng phải điên mà đòi liều cái thân phàm này.
Cũng chẳng phải dại, đến bỏ cái mồi mà theo cái bóng. (Lâcher la proie pour l’ombre).
Chư tôn rán nghiệm suy cho rõ, vì lúc này là lúc Thiên Đàng mở cửa. Nhưng mà chưa thấy ai vào đường chánh này, đi cho cùng tột đặng trở lại dìu dắt người đại căn. Mà lại thấy bàng môn tác loạn càng ngày càng lộng: sợ cho những người đại căn chưa gặp mối Đạo, chưa hiểu lý đạo mà lầm, rồi biết chừng nào hồi đầu cho đặng, thì luống công vô ích. Rồi ngàn sanh muôn kiếp biết có tái lại đặng chăng.
Tôi luận bài này chẳng cố ý kích bác việc người tu, vì sự tu hành có nhiều bậc: hạ thừa, trung thừa, thượng thừa, tối thượng nhứt thừa. Chủ ý mở đường chánh đạo mà dìu dắt kẻ tu bậc tối thượng mà thôi, còn ai tu theo ba bậc dưới thì tôi không dám nói đến, vì mỗi người tùy theo tự do sở thích của mình.
Giả tỷ như đi trong đường tâm tối, tôi may được một cây đuốc, mau mau đốt đuốc lên đặng có chỉ nẻo tắt cho người đồng chí noi theo lần đường.
Ai có căn lành đầy đủ đức hạnh thì chắc gặp đàng chánh này.
Bằng ai thiểu phước khó mà gặp đặng.
Ai còn ưa mến đường nhơn dục, thì lo công danh phú quí, lo cho nhơn quần xã hội. Ai dứt đặng nhơn dục thì vào đàng thiên lý, tìm chơn sư chỉ cách thức luyện huệ mạng của mình đặng hóa ra tiên thiên khí hiệp với khí tiên thiên của Trời thì về cỏi Thánh được. Ngũ sắc tường vân hay là tiên thiên khí do bởi cái chơn tinh của con người mà luyện ra, thì là nhờ cái xác phàm của ta mà lọc ra đó. Lọc cái linh hồn là đừng cho nhiểm tình phàm (sentiments humains) tới giờ hư cực tịnh đốc (arriver au calme absolu) thì máy thiên cơ phát động; kêu là nhứt dương sơ động. Phải lập đảnh an lư mà lấy thuốc đặng nấu luyện.
Luyện một trăm ngày gọi là bá nhựt trúc cơ.
Phản lão hườn đồng, cũng như mình trở lại trẻ trong lúc 15, 16 tuổi vậy, “Lậu tận thông thành”.
Chứng quả nhơn Tiên. Gọi là luyện tiểu châu thiên. Ngoại thận thục vô; hết đường dâm dục.
Ấy là tinh mãn bất tư dâm. Phải tịnh công bảy ngày, cho khí tiên thiên tụ lại hóa thành hỏa châu,
rồi lấy hỏa châu, ấy đem vô huỳnh đình là chỗ kiết thánh thai, mà luyện âm thần hóa ra dương thần.
Ấy là chiết khảm điền ly: ly khảm trở lại càn khôn. Lạc Thơ phản lại Hà Đồ.
Bậc này chứng quả Địa Tiên. – Nhơn Tiên, Địa Tiên hình thể còn trọng trược, bất ly ư địa, bất ly ư nhơn.
Phải nhập định như kê bảo noãn, như miêu bộ thử, như long dưỡng châu.
Ngày đêm thường vậy chẳng ly thời khắc. Tới lúc sáu bảy tháng hết thở hậu thiên khí, thì hết ăn: ấy là khí mãn bất tư thực. Đại định tới chín mười tháng thì hết ngủ: ấy là thần mãn bất tư thỏa. Âm thần hóa lại dương thần. Đến lúc mười tháng gọi là thập ngoạt thai hườn đẻ Tiên tử, Phật tử. Chứng quả Thần Tiên. Biết việc quá khứ vị lai hiện tại. Điều thần xuất xác, rồi chẳng nên ham dạo chơi nơi viễn cảnh, sợ lạc Khôn Mẫu mà phải chứng tiểu quả, thiệt hại cho người tu. Xuất thiểu nhập đa.
Chờ nhủ bộ tam niên, dương thần tán kiện thì mới vô hại, muốn đi đâu cũng đặng, mặc ý.
Ngao du bắc cực, biến hóa vô cùng, thần thông quảng đại. Chứng quả Thiên Tiên.
Chừng ấy muốn ở lại trần-thế bồi công lập đức, cứu dân thủy hỏa,
tế thế an bang bao lâu cũng được.
Còn không muốn lo việc trần thế nữa,
thì vào danh sơn động phủ, nhập đại định thêm chín năm đặng luyện hư hườn vô,
luyện cho đến hư hư vô vô.
Thì được chứng quả Đại Giác Kim Tiên là Phật.
Tôi luận sơ đặng chỉ việc đại khái tu luyện cho rỏ nguồn chánh đạo, chớ muốn cho thông hiểu tận tột thì phải khán đơn kinh; trong kinh ấy Tiên Phật chỉ đành rành chớ chẳng dấu ai.
Kẻ nào vọng ngữ rằng: “nói lậu Thiên cơ thì bị Thiên khiển lôi tru” là nói đều phi lý.
Mấy người nói vậy là lòng còn tư kỷ, sợ kẻ đại căn biết lý đạo rồi có hơn mình chăng.
Thì mình là kẻ tu hạ thừa, ai mà tôn trọng mình nữa.
Miệng nói độ người về cõi Thánh, ham đi phổ độ, dạy bậc hạ thừa làm sao mà độ về Trời cho đặng.
Rất uổng công tu, mà vạn kiếp bất đắc kiến tánh. Nói tắt một đều, muốn tu cho về cõi Thánh đặng thì bỏ tình phàm, làm như thể Trời Đất vô tình, thì vào đường Thiên lý mới đặng.
Xét cho cùng lý: Trời Đất không già là Trời Đất vô tình mà động tịnh, nên không hao mòn tam bửu;
còn co người hữu tình động tịnh, nên lần lần hao mòn tam bửu mà phải thác.
Vậy có bài của ông Đạt Ma xuống cơ như vầy:Đạo tâm khai tại diệt phàm tâm,
Chúng đẳng y ngôn, vật ngoại tầm;
Luyện đắc linh đơn thiên tải thọ,
Thành Tiên thành Phật quỉ thần khâm.
Saigon, le 1er Janvier 1923.
Văn Vỏ Đạo Nhơn
Tôi
luận bài dưới đây chẳng phải cố ý kích bác chi việc người mà khen việc
mình. Ý tôi muốn lấy lời minh chánh mà luận việc tu hành trong lúc
này, cho những người háo thiện dòm xem: nhất là mấy người muốn tu bực
tối thượng nhất thừa, đặng mà thành Tiên thành Phật hiển hiện tại thế
gian này.
Nếu ai coi bài tôi luận, tưởng rằng có lý thì nương theo đó để tìm đàng chánh
(Chánh Đạo) mà vào cửa đạo; bằng ai gọi là phi lý thì bỏ qua tự ý.
Tôi chẳng dám ép ai phải nghe lời tôi, hoặc phải tin lời tôi luận mà làm theo.
Cái đạo tôi tìm đây chẳng có lạ chi: vì bấy lâu cửa Thiên Đình bế lại, nên khiến “đạo thơ” ít ai khảo cứu; cứ bỏ dưới đáy tủ của các chùa; vì mấy ông tu còn ở bực hạ thừa, cứ lấy bực hạ thừa mà dạy chúng sanh, nên không thấy ai từ ấy những nay mà thành Tiên thành Phật.
Một đều này rất tệ là: mấy ông đạo ăn lạt gọi mình rằng tu, không cho kẻ thế gian coi đơn kinh; cứ nói người ăn mặn không nên coi kinh tối thượng. Ấy là cố ý sợ người thế thấy chỗ bí mật mà người tu không làm được, rồi vấn nạn. Hoặc là lòng tư kỷ, sợ người có căn cao hành đạo, rồi hơn mấy ổng chăng.
Nên cửa đạo bế lại là tại vậy đó.
Tôi ra công tìm kiếm, tới ngày nay là gần hai mươi năm, hết sức cực nhọc mới đặng đạo thơ. Và tôi rán sức học chữ Hán đặng coi đơn kinh mà khảo cứu cho rõ việc tu hành. Tôi thiệt thấy rõ ràng trong các sách của “Tiền Bối” để dạy bậc tối thượng, đặng kẻ hậu lai coi đó mà làm Tiên làm Phật chẳng sai. Không có một mảy nói huyễn hoặc, thiệt rất chí lý. Chớ chẳng phải lập chùa, ăn chay, tụng kinh, lạy Phật mà về Thiên Đàng đặng. Duy có biết lọc cái linh hồn và luyện cái xác phàm của mình, (tánh mạng song tu)
rồi ngoài thân ta có một thân riêng rất nên trong sạch. Thân ấy là Tiên, là Phật đó.
Phật gọi “xá lợi thành hình, xuất thai thân vi Phật tử”. Tiên gọi là “Xuất dương thần”. (périsprit)
Muốn lọc cái linh hồn cho trong sạch; trước hết phải đừng cho nhiễm sự quấy;
hay là đã nhiễm sự quấy rồi thì mình phải gắng sức ăn năn chừa lỗi, linh hồn lần lần mới trong sạch.
Sau lo luyện kỷ (Luyện kỷ nghĩa là muôn việc đều bỏ hết).
Tập hườn hư (hườn hư là lục căn bế lại) cho đến chừng hư cực tịnh đốc chi thời (calme absolu).
Trong lúc này nếu gặp chơn sư truyền chỉ phép luyện cái “huệ mạng” của mình thì mới có ngũ sắc tường vân, đặng hiệp với Tiên Thiên của Trời thì về Thiên đàng mới đặng (Ngũ sắc tường vân là tiên thiên khí). Bằng chẳng làm như vậy, dầu có tọa thoàn tu một mình cái linh hồn sau xuất âm thần thì làm âm binh chi quỉ, chớ không ra khỏi vòng luân hồi đặng.
Ngũ sắc tường vân đó bởi cái chơn tinh con người mà luyện ra. Dùng phép hóa học mà luyện ra tiên thiên khí vô hình. Tỷ như đặc rượu mà lấy hơi vậy.
Nên Phật gọi là “Cam lồ thủy” Tiên gọi là “Quỳnh tương tửu” hay là rượu “đề hồ”.
Thân con người nhờ vật thực, nhất là loài ngũ cốc hóa ra huyết, huyết lại hóa ra tinh, gồm sự quí báu mà nuôi cái xác phàm này.
Vật ấy là thuốc trường sanh cho nên con người tinh còn thì sống, tinh kiệt thì chết.
Người phàm bởi chỗ nhơn dục chưa nhàm, cứ lo tranh đoạt danh lợi, kiếm chước đầy mưu kia cho đặng sung sướng cái thân tạm này, mà chẳng biết cái thân tạm ấy không bao lâu hao mòn Tam Bửu (Tinh, Khí, Thần), thì hồn phải lìa xác đó.
Cũng như cây đèn cháy lụn, hết dầu phải tắt, tự nhiên ngươn thần,
ngươn khí, ngươn tinh tán ra hồng trần cho tận tuyệt, rồi linh hồn lìa xác.
Ba vật ấy là sự quí báu của con người, ngày nay rõ mối đạo rồi, thì phải làm sao mà cướp lại ba vật ấy của Trời Đất, đặng cho thân mình đầy đủ Tam Bửu như hồi còn nhỏ, thì là lý trường sanh của đạo.
Vậy mới gọi người đồng đứng trong Tam Tài: Thiên, Địa, Nhơn.
Việc tu hành làm Tiên Phật có ấn chứng, tại nhản tiền, chớ chẳng phải nói rằng người tu chết rồi mới được về Thiên Đàng. Nói vậy là nói huyễn. Lấy đâu mà làm bằng cớ. Nhiều người tu thác rồi, nào có thấy ai trở về mách bảo nói rằng lên được chốn Thiên Đàng đâu. Kẻ nào nói thác rồi mới về Thiên đàng ấy là kẻ nói gạt gẩm cho kẻ khác lầm. Bởi Đạo lý cao xa, không hiểu thấu, nên gắng gượng làm việc cầu may, thọ nhơn tước với nhau mà tranh cao tranh thấp. Người tu mà luyện không trúng cách thức của Tiên Phật dạy rõ ràng trong các Đơn Kinh, lại nói rằng chết rồi hồn trở nên Tiên Phật, thì người ấy cũng như xướng nhi trên hí đài (sân khấu) tự xưng là Hớn Cao Tổ, Sở Bá Vương, Quan Công Hầu vậy. Làm làm sao cho đặng thọ Thiên Tước, vậy mới chắc thành chánh quả.
Thiên Tước có 5 bậc, bởi chỗ công quả tu hành nhiều ít tùy theo đó mà chứng quả:
(1) Nhơn Tiên; (2) Địa Tiên; (3) Thần Tiên; (4) Thiên Tiên; (5) Đại Giác Kim Tiên (là Phật).
5 bậc này tu dương thần mới có ngũ sắc tường vân. Ba bậc trên là Kim Tiên, Thiên Tiên và Thần Tiên thì được phi đằng; còn Nhơn Tiên và Địa Tiên bởi hình thể còn trọng trược nên xuất dương thần chưa đặng. Nếu hai bậc này giữ được thần khí không hao mòn, thì được ích thọ diên niên trường sanh vô bệnh; bằng giữ chẳng đặng bị thần tùy khí tán, thì cũng phải chết như kẻ thường nhơn vậy.
Người phàm ai ai cũng con Trời, nếu hồi đầu hướng thượng, nghịch chuyển, thì làm Tiên làm Phật đặng. Còn cứ đi thuận hoài thì sanh nhơn vật.
Ấy là cơ Tạo Hóa đổi xây Thánh ra phàm, phàm ra Thánh là vậy đó.
Đạo không dấu ai miễn có lòng ăn năn theo đàng thiên lý, bỏ đường nhơn dục, đi nghịch thì mới về cõi Tiên cõi Phật đặng.
Cuộc đời như giấc mộng, như một đêm tại hí đài thượng. Mỗi người đều có một vai tuồng. Mãn vai tuồng thì rồi cởi lốt, qua đêm khác làm vai tuồng khác. Cứ vậy làm hoài. Ngàn sanh muôn kiếp không ra khỏi “trầm luân” này (cercle dé générations).
Gây tạo tiền khiên, trở lại đặng trả quả cho nhau (le karma ou loi de la causalité).
Nếu ai biết hồi đầu hướng thượng, quyết chí lo ra cho khỏi khí hậu thiên này, thì phải tu âm chất cho đầy đủ, cảm động Thiên tâm, thời có ngày gặp đặng chơn sư chỉ điểm cách tu cái “huệ mạng”
đặng tạo khí tiên thiên thì về Trời có khó chi. Ấy là lý làm Tiên làm Phật vậy.
Chớ chẳng phải nói tụng kinh, ăn chay, lạy Phật, cất chùa, mà Phật độ về thiên đàng đặng.
Vì đức Lục Tổ Huệ Năng có nói rằng: «Đản y thử tu, dữ ngô đồng xứ vô biệt,
bất tác thử tu, thí pháp xuất gia ư Đạo, hà ích?».
Nghĩa là các ngươi phải tu luyện như cách tu của ta, thì sẽ đặng thành Phật mà về một chỗ với ta, bằng chẳng tu luyện cách ấy, có cạo đầu vô chùa, nào có ích chi?
Trời muốn cho mỗi người hành đạo, đặng có về chốn Thiên Đàng là nơi thắng cảnh,
hưởng phước tiêu diêu.
Tại người phàm rõ cái máy thiên cơ trong mình, đặng lọc huệ mạng của mình, nên về Thiên Đàng không đặng.
Nay là lúc Đại Đạo phục hưng, ai có phước lớn thì gặp minh sư chỉ truyền tâm pháp mà tu luyện dương thần; còn ai thiểu phước bị manh sư thì phải té vào bàng môn giả dối.
Mất dịp này rất uổng cho thân sanh ta một thuở, mà ngàn thuở chưa biết có tái lại đặng chăng?
Bởi có lời giáng cơ của ông Huê Quang Đại Đế nói như vầy.
Nếu ai coi bài tôi luận, tưởng rằng có lý thì nương theo đó để tìm đàng chánh
(Chánh Đạo) mà vào cửa đạo; bằng ai gọi là phi lý thì bỏ qua tự ý.
Tôi chẳng dám ép ai phải nghe lời tôi, hoặc phải tin lời tôi luận mà làm theo.
Cái đạo tôi tìm đây chẳng có lạ chi: vì bấy lâu cửa Thiên Đình bế lại, nên khiến “đạo thơ” ít ai khảo cứu; cứ bỏ dưới đáy tủ của các chùa; vì mấy ông tu còn ở bực hạ thừa, cứ lấy bực hạ thừa mà dạy chúng sanh, nên không thấy ai từ ấy những nay mà thành Tiên thành Phật.
Một đều này rất tệ là: mấy ông đạo ăn lạt gọi mình rằng tu, không cho kẻ thế gian coi đơn kinh; cứ nói người ăn mặn không nên coi kinh tối thượng. Ấy là cố ý sợ người thế thấy chỗ bí mật mà người tu không làm được, rồi vấn nạn. Hoặc là lòng tư kỷ, sợ người có căn cao hành đạo, rồi hơn mấy ổng chăng.
Nên cửa đạo bế lại là tại vậy đó.
Tôi ra công tìm kiếm, tới ngày nay là gần hai mươi năm, hết sức cực nhọc mới đặng đạo thơ. Và tôi rán sức học chữ Hán đặng coi đơn kinh mà khảo cứu cho rõ việc tu hành. Tôi thiệt thấy rõ ràng trong các sách của “Tiền Bối” để dạy bậc tối thượng, đặng kẻ hậu lai coi đó mà làm Tiên làm Phật chẳng sai. Không có một mảy nói huyễn hoặc, thiệt rất chí lý. Chớ chẳng phải lập chùa, ăn chay, tụng kinh, lạy Phật mà về Thiên Đàng đặng. Duy có biết lọc cái linh hồn và luyện cái xác phàm của mình, (tánh mạng song tu)
rồi ngoài thân ta có một thân riêng rất nên trong sạch. Thân ấy là Tiên, là Phật đó.
Phật gọi “xá lợi thành hình, xuất thai thân vi Phật tử”. Tiên gọi là “Xuất dương thần”. (périsprit)
Muốn lọc cái linh hồn cho trong sạch; trước hết phải đừng cho nhiễm sự quấy;
hay là đã nhiễm sự quấy rồi thì mình phải gắng sức ăn năn chừa lỗi, linh hồn lần lần mới trong sạch.
Sau lo luyện kỷ (Luyện kỷ nghĩa là muôn việc đều bỏ hết).
Tập hườn hư (hườn hư là lục căn bế lại) cho đến chừng hư cực tịnh đốc chi thời (calme absolu).
Trong lúc này nếu gặp chơn sư truyền chỉ phép luyện cái “huệ mạng” của mình thì mới có ngũ sắc tường vân, đặng hiệp với Tiên Thiên của Trời thì về Thiên đàng mới đặng (Ngũ sắc tường vân là tiên thiên khí). Bằng chẳng làm như vậy, dầu có tọa thoàn tu một mình cái linh hồn sau xuất âm thần thì làm âm binh chi quỉ, chớ không ra khỏi vòng luân hồi đặng.
Ngũ sắc tường vân đó bởi cái chơn tinh con người mà luyện ra. Dùng phép hóa học mà luyện ra tiên thiên khí vô hình. Tỷ như đặc rượu mà lấy hơi vậy.
Nên Phật gọi là “Cam lồ thủy” Tiên gọi là “Quỳnh tương tửu” hay là rượu “đề hồ”.
Thân con người nhờ vật thực, nhất là loài ngũ cốc hóa ra huyết, huyết lại hóa ra tinh, gồm sự quí báu mà nuôi cái xác phàm này.
Vật ấy là thuốc trường sanh cho nên con người tinh còn thì sống, tinh kiệt thì chết.
Người phàm bởi chỗ nhơn dục chưa nhàm, cứ lo tranh đoạt danh lợi, kiếm chước đầy mưu kia cho đặng sung sướng cái thân tạm này, mà chẳng biết cái thân tạm ấy không bao lâu hao mòn Tam Bửu (Tinh, Khí, Thần), thì hồn phải lìa xác đó.
Cũng như cây đèn cháy lụn, hết dầu phải tắt, tự nhiên ngươn thần,
ngươn khí, ngươn tinh tán ra hồng trần cho tận tuyệt, rồi linh hồn lìa xác.
Ba vật ấy là sự quí báu của con người, ngày nay rõ mối đạo rồi, thì phải làm sao mà cướp lại ba vật ấy của Trời Đất, đặng cho thân mình đầy đủ Tam Bửu như hồi còn nhỏ, thì là lý trường sanh của đạo.
Vậy mới gọi người đồng đứng trong Tam Tài: Thiên, Địa, Nhơn.
Việc tu hành làm Tiên Phật có ấn chứng, tại nhản tiền, chớ chẳng phải nói rằng người tu chết rồi mới được về Thiên Đàng. Nói vậy là nói huyễn. Lấy đâu mà làm bằng cớ. Nhiều người tu thác rồi, nào có thấy ai trở về mách bảo nói rằng lên được chốn Thiên Đàng đâu. Kẻ nào nói thác rồi mới về Thiên đàng ấy là kẻ nói gạt gẩm cho kẻ khác lầm. Bởi Đạo lý cao xa, không hiểu thấu, nên gắng gượng làm việc cầu may, thọ nhơn tước với nhau mà tranh cao tranh thấp. Người tu mà luyện không trúng cách thức của Tiên Phật dạy rõ ràng trong các Đơn Kinh, lại nói rằng chết rồi hồn trở nên Tiên Phật, thì người ấy cũng như xướng nhi trên hí đài (sân khấu) tự xưng là Hớn Cao Tổ, Sở Bá Vương, Quan Công Hầu vậy. Làm làm sao cho đặng thọ Thiên Tước, vậy mới chắc thành chánh quả.
Thiên Tước có 5 bậc, bởi chỗ công quả tu hành nhiều ít tùy theo đó mà chứng quả:
(1) Nhơn Tiên; (2) Địa Tiên; (3) Thần Tiên; (4) Thiên Tiên; (5) Đại Giác Kim Tiên (là Phật).
5 bậc này tu dương thần mới có ngũ sắc tường vân. Ba bậc trên là Kim Tiên, Thiên Tiên và Thần Tiên thì được phi đằng; còn Nhơn Tiên và Địa Tiên bởi hình thể còn trọng trược nên xuất dương thần chưa đặng. Nếu hai bậc này giữ được thần khí không hao mòn, thì được ích thọ diên niên trường sanh vô bệnh; bằng giữ chẳng đặng bị thần tùy khí tán, thì cũng phải chết như kẻ thường nhơn vậy.
Người phàm ai ai cũng con Trời, nếu hồi đầu hướng thượng, nghịch chuyển, thì làm Tiên làm Phật đặng. Còn cứ đi thuận hoài thì sanh nhơn vật.
Ấy là cơ Tạo Hóa đổi xây Thánh ra phàm, phàm ra Thánh là vậy đó.
Đạo không dấu ai miễn có lòng ăn năn theo đàng thiên lý, bỏ đường nhơn dục, đi nghịch thì mới về cõi Tiên cõi Phật đặng.
Cuộc đời như giấc mộng, như một đêm tại hí đài thượng. Mỗi người đều có một vai tuồng. Mãn vai tuồng thì rồi cởi lốt, qua đêm khác làm vai tuồng khác. Cứ vậy làm hoài. Ngàn sanh muôn kiếp không ra khỏi “trầm luân” này (cercle dé générations).
Gây tạo tiền khiên, trở lại đặng trả quả cho nhau (le karma ou loi de la causalité).
Nếu ai biết hồi đầu hướng thượng, quyết chí lo ra cho khỏi khí hậu thiên này, thì phải tu âm chất cho đầy đủ, cảm động Thiên tâm, thời có ngày gặp đặng chơn sư chỉ điểm cách tu cái “huệ mạng”
đặng tạo khí tiên thiên thì về Trời có khó chi. Ấy là lý làm Tiên làm Phật vậy.
Chớ chẳng phải nói tụng kinh, ăn chay, lạy Phật, cất chùa, mà Phật độ về thiên đàng đặng.
Vì đức Lục Tổ Huệ Năng có nói rằng: «Đản y thử tu, dữ ngô đồng xứ vô biệt,
bất tác thử tu, thí pháp xuất gia ư Đạo, hà ích?».
Nghĩa là các ngươi phải tu luyện như cách tu của ta, thì sẽ đặng thành Phật mà về một chỗ với ta, bằng chẳng tu luyện cách ấy, có cạo đầu vô chùa, nào có ích chi?
Trời muốn cho mỗi người hành đạo, đặng có về chốn Thiên Đàng là nơi thắng cảnh,
hưởng phước tiêu diêu.
Tại người phàm rõ cái máy thiên cơ trong mình, đặng lọc huệ mạng của mình, nên về Thiên Đàng không đặng.
Nay là lúc Đại Đạo phục hưng, ai có phước lớn thì gặp minh sư chỉ truyền tâm pháp mà tu luyện dương thần; còn ai thiểu phước bị manh sư thì phải té vào bàng môn giả dối.
Mất dịp này rất uổng cho thân sanh ta một thuở, mà ngàn thuở chưa biết có tái lại đặng chăng?
Bởi có lời giáng cơ của ông Huê Quang Đại Đế nói như vầy.
Huê phát Tam kỳ đạo dĩ khai,
Quang minh tứ hướng thượng tam tài;
Đại phước kim đơn thân đắc ngộ,
Đế quân giáng hạ nhữ vô lai.
Vô tai khả tảo tu,
Diên trì thất công phu;
Chư nhu hành chánh Đạo,
Thượng thừa chí ngao du.
Ngao du tứ hải lạc Hi Di,
Thiện chí tu tâm phước hữu kỳ;
Luyện đạo, luyện đơn, duyên hống luyện,
Chơn tâm, chơn tánh đắc từ bi.
Từ bi chỉ giáo nể minh tâm,
Tường thức chơn cơ, vật ngoại tầm;
Tâm chánh liên hoa thân tảo ngộ,
Hữu căn phùng diệu cổ lai câm.
Lại ông Tào Quốc Cựu cũng có cho hai bài dưới đây:
Nhựt dạ công phu, nhựt dạ hành,
Kim đơn tảo vãn luyện nhi phanh;
Nhứt liệp minh châu tùy thời ngộ,
Càn Khôn thủy hỏa hữu thời thanh.
Đạo lý dĩ minh nể khả tàng (tường),
Xuất thân luyện Đạo phước nhàn an;
Diên trì hậu nhựt hà tu hối?
Ngộ chơn tảo tảo luyện thanh càn.
Tôi coi đơn kinh thấy lý đạo như lời
tôi tỏ bày trên đó, nên mới dám khuyên chư tôn rán sức tìm những đơn
kinh dạy làm những bậc tối thượng nhứt thừa, xem lấy thì cũng như tôi
vậy.
Các thứ đơn kinh kể ra sau đây:
Kim Tiên chứng luận.
Tiên Phật hiệp tông.
Thiên tiên chánh lý.
Huệ mạng kinh.
Tiều dương kinh.
Huê nghiêm kinh.
Trực chỉ huyền châu.
Đạo thơ thập nhị chưởng.
Lục Tổ bửu đàn kinh.
Tánh mạng khuê chỉ.
Quan Âm bí giải. (dịch rồi)
Xiển pháp chơn ngôn.
Huyền vi tâm ấn kinh.
Xuất tánh xiển vi.
Xích thủy ngân.
Lăng Nghiêm kinh.
Huyền diệu cảnh. (dịch rồi)
Ngộ tánh cùng nguyên.
Kim cang kinh chơn giải. (dịch rồi)
Ngộ chơn thiên.
Tham đồng khế.
Dưỡng chơn.
Vô căn thọ, Tư huê đề.
Chánh đạo linh chơn kim đơn ngoại cảnh.
Chánh đạo linh chơn kim đơn nội cảnh.
Thiên tiên chánh lý độc pháp điểm tình.
Thái Thượng thập tam kinh.
Lữ Tổ toàn thơ.
Ấy là mấy thứ kinh tôi đã thấy, chớ còn kinh chi cao nữa thì chưa thấy; nếu ai có tìm đặng kinh cao hơn nữa, xin tỏ bày cho bọn tôi xem, đặng minh đạo lý, thì sự ấy rất dày âm chất đó.
Mấy tạng kinh nói trên đó chỉ là phép tu luyện, có họa đồ, có hỏa hậu.
Song le coi kinh phải suy xét cho nhiều, vì nhiều lời Tiên Phật hay nói ẩn, đợi kẻ đại căn đạt lấy mà thông sự lý.
Cũng như Đại học Trung dung của Nho làm ra, nói nhơn đạo mà thiên đạo ẩn ở trong đó.
Những lời huyền diệu của đức Khổng Tử di ngôn cho các môn đồ của ngày đều ở trong hai sách ấy.
Qua đến đời ông Mạnh Tử thì đạo bế lại, không có người ra gánh mối đạo nỗi,
đặng làm bậc tối thượng mà siêu phàm nhập Thánh.
Lúc này là buổi Tiên Thánh lâm phàm mà độ nguyên nhơn. Con đò Bác Nhã (là đò Phật để độ chúng sanh qua biển khổ) đã lố ra ba bốn năm rồi đợi tiếp dẫn những người thiện duyên.
Nếu ai tới bến đò sớm, thì có người tiếp rước liền, chẳng luận sang hèn quyền quí hay là hạ tiện, trọng kẻ đạo đức cao dày mà thôi.
Vậy nếu ai có chí tu hành, hoặc có đại căn phải lo tu luyện cho sớm, chớ để đại tai đến thì ngọc đá khó phân.
Vì có hai bài của Đông Phương Sóc xuống cơ như vầy, trong năm 1923 tháng 8.
Các thứ đơn kinh kể ra sau đây:
Kim Tiên chứng luận.
Tiên Phật hiệp tông.
Thiên tiên chánh lý.
Huệ mạng kinh.
Tiều dương kinh.
Huê nghiêm kinh.
Trực chỉ huyền châu.
Đạo thơ thập nhị chưởng.
Lục Tổ bửu đàn kinh.
Tánh mạng khuê chỉ.
Quan Âm bí giải. (dịch rồi)
Xiển pháp chơn ngôn.
Huyền vi tâm ấn kinh.
Xuất tánh xiển vi.
Xích thủy ngân.
Lăng Nghiêm kinh.
Huyền diệu cảnh. (dịch rồi)
Ngộ tánh cùng nguyên.
Kim cang kinh chơn giải. (dịch rồi)
Ngộ chơn thiên.
Tham đồng khế.
Dưỡng chơn.
Vô căn thọ, Tư huê đề.
Chánh đạo linh chơn kim đơn ngoại cảnh.
Chánh đạo linh chơn kim đơn nội cảnh.
Thiên tiên chánh lý độc pháp điểm tình.
Thái Thượng thập tam kinh.
Lữ Tổ toàn thơ.
Ấy là mấy thứ kinh tôi đã thấy, chớ còn kinh chi cao nữa thì chưa thấy; nếu ai có tìm đặng kinh cao hơn nữa, xin tỏ bày cho bọn tôi xem, đặng minh đạo lý, thì sự ấy rất dày âm chất đó.
Mấy tạng kinh nói trên đó chỉ là phép tu luyện, có họa đồ, có hỏa hậu.
Song le coi kinh phải suy xét cho nhiều, vì nhiều lời Tiên Phật hay nói ẩn, đợi kẻ đại căn đạt lấy mà thông sự lý.
Cũng như Đại học Trung dung của Nho làm ra, nói nhơn đạo mà thiên đạo ẩn ở trong đó.
Những lời huyền diệu của đức Khổng Tử di ngôn cho các môn đồ của ngày đều ở trong hai sách ấy.
Qua đến đời ông Mạnh Tử thì đạo bế lại, không có người ra gánh mối đạo nỗi,
đặng làm bậc tối thượng mà siêu phàm nhập Thánh.
Lúc này là buổi Tiên Thánh lâm phàm mà độ nguyên nhơn. Con đò Bác Nhã (là đò Phật để độ chúng sanh qua biển khổ) đã lố ra ba bốn năm rồi đợi tiếp dẫn những người thiện duyên.
Nếu ai tới bến đò sớm, thì có người tiếp rước liền, chẳng luận sang hèn quyền quí hay là hạ tiện, trọng kẻ đạo đức cao dày mà thôi.
Vậy nếu ai có chí tu hành, hoặc có đại căn phải lo tu luyện cho sớm, chớ để đại tai đến thì ngọc đá khó phân.
Vì có hai bài của Đông Phương Sóc xuống cơ như vầy, trong năm 1923 tháng 8.
Đông, Tây,Nam, Bắc nhập Trung ương,
Hắc, xích, thanh, huỳnh bạch hỏa xương;
Thiên Địa đảo điên, nhơn vật hoại,
Càn Khôn chuyển động, chúng dân ương.
Tu tâm tỉnh chí phân tam khí,
Luyện tánh minh tinh hiển tứ phương;
Thoát tục ly tai, thân vĩnh lạc,
Bất tri cơ chánh, bất an khương.
Hữu hạnh chư-nhu ngộ đạo huyền,
Phật Tiên chỉ dẫn luyện tiên thiên;
Bác-nhã linh thoàn kim dĩ lộ,
Hà do bất học, hựu thiên diên?
Đời này nhiều sự tai biến lắm, nên phải
gấp gấp tu hành Chánh Đạo. Song le phải có chơn sư chỉ cách thức tu
luyện huệ mạng mới đặng. Đừng để cho manh sư (thầy mù) dắt vào hang sâu
vực thẫm mà chôn lấp kẻ thiện tín vô số, thì rất uổng công chúng ta
ngày nay gặp dịp tốt, là lúc Đại Đạo phục hưng, mà mình nắm mối đạo
không đặng. Người tu hành chẳng nên lấy sự quả vị cao thăng mà gọi mình
tu. Phẩm vị là bề ngoài của nhơn đạo, hay lo đua tranh cho thiên ha
tùng phục đó mà thôi. Người tu bậc tối thượng phải ly gia cắt ái, xa
lánh chốn thị thiền, thanh tâm quả dục, đoạn thất tình, chẳng nên lo
việc nước việc nhà, chẳng nên làm đoàn thể gọi rằng dìu dắt độ người.
Phải tìm nơi thanh tịnh đặng tịnh dưỡng cái linh hồn; thì một ít lâu
máy thiên cơ mới phát động. mau thì bảy ngày, lâu thì mười bốn bữa.
Nhơn dục tịnh tận, thiên lý lưu hành trong lúc đó mới rõ nguồn Tiên nẻo
Phật mở khai; song le phải có chơn sư chỉ phép tắc lấy thuốc trường
sanh (kim đơn) mới đặng. Nếu không gặp chơn-sư thì rán xem xét đơn kinh
cho chí lý, làm y cách dạy trong sách ấy, thì cũng tròm trèm như là có
chơn sư chỉ bày. Lần lần phát minh theo cũng kịp đặng. Vì đơn thơ một
cuốn chỉ lộ ra một đoạn, chớ một cuốn không nói cho cùng lý. Cách thức
hỏa hậu phải coi nhiều cuốn mà ráp lại mới thành y theo hỏa hậu của
Tiên Phật. Noi theo đó mà luyện thì chắc được thành Tiên thành Phật.
Kinh điển tuy đặt ra cho nhiều, là cố ý mở tâm con người cho hiểu xa rộng thấy, chớ lý đạo chẳng ra khỏi âm dương nhị khí: một cái thanh một cái trược mà thôi. Biết cách khử trược lưu thanh, thì mình khinh phù, còn không rõ lý dinh hư tiêu trưởng, để cho hết thanh rồi tồn trược, thì ngưng lại chìm xuống lóng cặn, thì phải ở trong vòng hậu thiên mà thôi.
Nếu không phân rõ cách vận chuyển âm dương, nếu không biết cách lọc thanh bỏ trược,
dầu đạo nào có xưng là chánh cũng không thế chi mà về Thiên Đàng đặng.
Bất quá nói huyễn dụ chúng gạt người theo cho đông đặng cầu danh cầu lợi mà thôi.
Biết cái máy thiên cơ này, dầu theo đạo nào làm cũng đặng. Chổ về đàng cả làm theo lẽ tự nhiên, không can phạm chi đến điều luật riêng của các mối Đạo. Cho nên đức Thái Thượng đạo Tiên, luyện cái máy này mà về Tiên Bang; đức Thích Ca đạo Phật, luyện cái máy này mà đến Niết Bàn, đức Khổng Thánh luyện cái máy này mà siêu phàm nhập thánh, đức Jésus luyện cái máy này mà bạch nhựt thăng Thiên. Các vì Tiên, Phật, Thánh khác cũng nhờ luyện cái máy này mà về cõi Tiên cõi Phật cõi Thánh. Việc phàm trần cũng thấy lý đạo mà bày ra. Chẳng luận là máy chi cũng phải dùng âm dương thủy hỏa và ngũ hành mà chế tạo.
Tôi đây chẳng ưa danh mến lợi, song ở phàm trần ai cũng phải lo một đoạn hồng trần. Vì có cha mẹ vợ con nên trước phải lo cho tròn chữ hiếu chữ nghĩa, kế phải lo cho nhơn quần xã hội, rồi mới lần qua Thiên-đạo được. Lòng quyết chí lo nhơn đạo cho xong. Cố ý liều cái thân phàm này, ra công gắng sức làm Đạo cho rõ ràng, đặng kẻ đồng chí biết làm Tiên làm Phật có ấn chứng mà noi theo. Xong nhơn đạo còn ràng buộc, bức rức trong lòng muốn đi cho gấp mà chưa đặng. Bởi tôi thấy kẻ tu hành làm huyễn, nên gia công gắng sức tìm cho ra mối Đạo, mới thấy sự mầu nhiệm của Trời. Chớ chẳng phải làm việc cầu may nói xàm đặng khoe danh với thiên hạ. Cũng chẳng phải điên mà đòi liều cái thân phàm này.
Cũng chẳng phải dại, đến bỏ cái mồi mà theo cái bóng. (Lâcher la proie pour l’ombre).
Chư tôn rán nghiệm suy cho rõ, vì lúc này là lúc Thiên Đàng mở cửa. Nhưng mà chưa thấy ai vào đường chánh này, đi cho cùng tột đặng trở lại dìu dắt người đại căn. Mà lại thấy bàng môn tác loạn càng ngày càng lộng: sợ cho những người đại căn chưa gặp mối Đạo, chưa hiểu lý đạo mà lầm, rồi biết chừng nào hồi đầu cho đặng, thì luống công vô ích. Rồi ngàn sanh muôn kiếp biết có tái lại đặng chăng.
Tôi luận bài này chẳng cố ý kích bác việc người tu, vì sự tu hành có nhiều bậc: hạ thừa, trung thừa, thượng thừa, tối thượng nhứt thừa. Chủ ý mở đường chánh đạo mà dìu dắt kẻ tu bậc tối thượng mà thôi, còn ai tu theo ba bậc dưới thì tôi không dám nói đến, vì mỗi người tùy theo tự do sở thích của mình.
Giả tỷ như đi trong đường tâm tối, tôi may được một cây đuốc, mau mau đốt đuốc lên đặng có chỉ nẻo tắt cho người đồng chí noi theo lần đường.
Ai có căn lành đầy đủ đức hạnh thì chắc gặp đàng chánh này.
Bằng ai thiểu phước khó mà gặp đặng.
Ai còn ưa mến đường nhơn dục, thì lo công danh phú quí, lo cho nhơn quần xã hội. Ai dứt đặng nhơn dục thì vào đàng thiên lý, tìm chơn sư chỉ cách thức luyện huệ mạng của mình đặng hóa ra tiên thiên khí hiệp với khí tiên thiên của Trời thì về cỏi Thánh được. Ngũ sắc tường vân hay là tiên thiên khí do bởi cái chơn tinh của con người mà luyện ra, thì là nhờ cái xác phàm của ta mà lọc ra đó. Lọc cái linh hồn là đừng cho nhiểm tình phàm (sentiments humains) tới giờ hư cực tịnh đốc (arriver au calme absolu) thì máy thiên cơ phát động; kêu là nhứt dương sơ động. Phải lập đảnh an lư mà lấy thuốc đặng nấu luyện.
Luyện một trăm ngày gọi là bá nhựt trúc cơ.
Phản lão hườn đồng, cũng như mình trở lại trẻ trong lúc 15, 16 tuổi vậy, “Lậu tận thông thành”.
Chứng quả nhơn Tiên. Gọi là luyện tiểu châu thiên. Ngoại thận thục vô; hết đường dâm dục.
Ấy là tinh mãn bất tư dâm. Phải tịnh công bảy ngày, cho khí tiên thiên tụ lại hóa thành hỏa châu,
rồi lấy hỏa châu, ấy đem vô huỳnh đình là chỗ kiết thánh thai, mà luyện âm thần hóa ra dương thần.
Ấy là chiết khảm điền ly: ly khảm trở lại càn khôn. Lạc Thơ phản lại Hà Đồ.
Bậc này chứng quả Địa Tiên. – Nhơn Tiên, Địa Tiên hình thể còn trọng trược, bất ly ư địa, bất ly ư nhơn.
Phải nhập định như kê bảo noãn, như miêu bộ thử, như long dưỡng châu.
Ngày đêm thường vậy chẳng ly thời khắc. Tới lúc sáu bảy tháng hết thở hậu thiên khí, thì hết ăn: ấy là khí mãn bất tư thực. Đại định tới chín mười tháng thì hết ngủ: ấy là thần mãn bất tư thỏa. Âm thần hóa lại dương thần. Đến lúc mười tháng gọi là thập ngoạt thai hườn đẻ Tiên tử, Phật tử. Chứng quả Thần Tiên. Biết việc quá khứ vị lai hiện tại. Điều thần xuất xác, rồi chẳng nên ham dạo chơi nơi viễn cảnh, sợ lạc Khôn Mẫu mà phải chứng tiểu quả, thiệt hại cho người tu. Xuất thiểu nhập đa.
Chờ nhủ bộ tam niên, dương thần tán kiện thì mới vô hại, muốn đi đâu cũng đặng, mặc ý.
Ngao du bắc cực, biến hóa vô cùng, thần thông quảng đại. Chứng quả Thiên Tiên.
Chừng ấy muốn ở lại trần-thế bồi công lập đức, cứu dân thủy hỏa,
tế thế an bang bao lâu cũng được.
Còn không muốn lo việc trần thế nữa,
thì vào danh sơn động phủ, nhập đại định thêm chín năm đặng luyện hư hườn vô,
luyện cho đến hư hư vô vô.
Thì được chứng quả Đại Giác Kim Tiên là Phật.
Tôi luận sơ đặng chỉ việc đại khái tu luyện cho rỏ nguồn chánh đạo, chớ muốn cho thông hiểu tận tột thì phải khán đơn kinh; trong kinh ấy Tiên Phật chỉ đành rành chớ chẳng dấu ai.
Kẻ nào vọng ngữ rằng: “nói lậu Thiên cơ thì bị Thiên khiển lôi tru” là nói đều phi lý.
Mấy người nói vậy là lòng còn tư kỷ, sợ kẻ đại căn biết lý đạo rồi có hơn mình chăng.
Thì mình là kẻ tu hạ thừa, ai mà tôn trọng mình nữa.
Miệng nói độ người về cõi Thánh, ham đi phổ độ, dạy bậc hạ thừa làm sao mà độ về Trời cho đặng.
Rất uổng công tu, mà vạn kiếp bất đắc kiến tánh. Nói tắt một đều, muốn tu cho về cõi Thánh đặng thì bỏ tình phàm, làm như thể Trời Đất vô tình, thì vào đường Thiên lý mới đặng.
Xét cho cùng lý: Trời Đất không già là Trời Đất vô tình mà động tịnh, nên không hao mòn tam bửu;
còn co người hữu tình động tịnh, nên lần lần hao mòn tam bửu mà phải thác.
Vậy có bài của ông Đạt Ma xuống cơ như vầy:
Kinh điển tuy đặt ra cho nhiều, là cố ý mở tâm con người cho hiểu xa rộng thấy, chớ lý đạo chẳng ra khỏi âm dương nhị khí: một cái thanh một cái trược mà thôi. Biết cách khử trược lưu thanh, thì mình khinh phù, còn không rõ lý dinh hư tiêu trưởng, để cho hết thanh rồi tồn trược, thì ngưng lại chìm xuống lóng cặn, thì phải ở trong vòng hậu thiên mà thôi.
Nếu không phân rõ cách vận chuyển âm dương, nếu không biết cách lọc thanh bỏ trược,
dầu đạo nào có xưng là chánh cũng không thế chi mà về Thiên Đàng đặng.
Bất quá nói huyễn dụ chúng gạt người theo cho đông đặng cầu danh cầu lợi mà thôi.
Biết cái máy thiên cơ này, dầu theo đạo nào làm cũng đặng. Chổ về đàng cả làm theo lẽ tự nhiên, không can phạm chi đến điều luật riêng của các mối Đạo. Cho nên đức Thái Thượng đạo Tiên, luyện cái máy này mà về Tiên Bang; đức Thích Ca đạo Phật, luyện cái máy này mà đến Niết Bàn, đức Khổng Thánh luyện cái máy này mà siêu phàm nhập thánh, đức Jésus luyện cái máy này mà bạch nhựt thăng Thiên. Các vì Tiên, Phật, Thánh khác cũng nhờ luyện cái máy này mà về cõi Tiên cõi Phật cõi Thánh. Việc phàm trần cũng thấy lý đạo mà bày ra. Chẳng luận là máy chi cũng phải dùng âm dương thủy hỏa và ngũ hành mà chế tạo.
Tôi đây chẳng ưa danh mến lợi, song ở phàm trần ai cũng phải lo một đoạn hồng trần. Vì có cha mẹ vợ con nên trước phải lo cho tròn chữ hiếu chữ nghĩa, kế phải lo cho nhơn quần xã hội, rồi mới lần qua Thiên-đạo được. Lòng quyết chí lo nhơn đạo cho xong. Cố ý liều cái thân phàm này, ra công gắng sức làm Đạo cho rõ ràng, đặng kẻ đồng chí biết làm Tiên làm Phật có ấn chứng mà noi theo. Xong nhơn đạo còn ràng buộc, bức rức trong lòng muốn đi cho gấp mà chưa đặng. Bởi tôi thấy kẻ tu hành làm huyễn, nên gia công gắng sức tìm cho ra mối Đạo, mới thấy sự mầu nhiệm của Trời. Chớ chẳng phải làm việc cầu may nói xàm đặng khoe danh với thiên hạ. Cũng chẳng phải điên mà đòi liều cái thân phàm này.
Cũng chẳng phải dại, đến bỏ cái mồi mà theo cái bóng. (Lâcher la proie pour l’ombre).
Chư tôn rán nghiệm suy cho rõ, vì lúc này là lúc Thiên Đàng mở cửa. Nhưng mà chưa thấy ai vào đường chánh này, đi cho cùng tột đặng trở lại dìu dắt người đại căn. Mà lại thấy bàng môn tác loạn càng ngày càng lộng: sợ cho những người đại căn chưa gặp mối Đạo, chưa hiểu lý đạo mà lầm, rồi biết chừng nào hồi đầu cho đặng, thì luống công vô ích. Rồi ngàn sanh muôn kiếp biết có tái lại đặng chăng.
Tôi luận bài này chẳng cố ý kích bác việc người tu, vì sự tu hành có nhiều bậc: hạ thừa, trung thừa, thượng thừa, tối thượng nhứt thừa. Chủ ý mở đường chánh đạo mà dìu dắt kẻ tu bậc tối thượng mà thôi, còn ai tu theo ba bậc dưới thì tôi không dám nói đến, vì mỗi người tùy theo tự do sở thích của mình.
Giả tỷ như đi trong đường tâm tối, tôi may được một cây đuốc, mau mau đốt đuốc lên đặng có chỉ nẻo tắt cho người đồng chí noi theo lần đường.
Ai có căn lành đầy đủ đức hạnh thì chắc gặp đàng chánh này.
Bằng ai thiểu phước khó mà gặp đặng.
Ai còn ưa mến đường nhơn dục, thì lo công danh phú quí, lo cho nhơn quần xã hội. Ai dứt đặng nhơn dục thì vào đàng thiên lý, tìm chơn sư chỉ cách thức luyện huệ mạng của mình đặng hóa ra tiên thiên khí hiệp với khí tiên thiên của Trời thì về cỏi Thánh được. Ngũ sắc tường vân hay là tiên thiên khí do bởi cái chơn tinh của con người mà luyện ra, thì là nhờ cái xác phàm của ta mà lọc ra đó. Lọc cái linh hồn là đừng cho nhiểm tình phàm (sentiments humains) tới giờ hư cực tịnh đốc (arriver au calme absolu) thì máy thiên cơ phát động; kêu là nhứt dương sơ động. Phải lập đảnh an lư mà lấy thuốc đặng nấu luyện.
Luyện một trăm ngày gọi là bá nhựt trúc cơ.
Phản lão hườn đồng, cũng như mình trở lại trẻ trong lúc 15, 16 tuổi vậy, “Lậu tận thông thành”.
Chứng quả nhơn Tiên. Gọi là luyện tiểu châu thiên. Ngoại thận thục vô; hết đường dâm dục.
Ấy là tinh mãn bất tư dâm. Phải tịnh công bảy ngày, cho khí tiên thiên tụ lại hóa thành hỏa châu,
rồi lấy hỏa châu, ấy đem vô huỳnh đình là chỗ kiết thánh thai, mà luyện âm thần hóa ra dương thần.
Ấy là chiết khảm điền ly: ly khảm trở lại càn khôn. Lạc Thơ phản lại Hà Đồ.
Bậc này chứng quả Địa Tiên. – Nhơn Tiên, Địa Tiên hình thể còn trọng trược, bất ly ư địa, bất ly ư nhơn.
Phải nhập định như kê bảo noãn, như miêu bộ thử, như long dưỡng châu.
Ngày đêm thường vậy chẳng ly thời khắc. Tới lúc sáu bảy tháng hết thở hậu thiên khí, thì hết ăn: ấy là khí mãn bất tư thực. Đại định tới chín mười tháng thì hết ngủ: ấy là thần mãn bất tư thỏa. Âm thần hóa lại dương thần. Đến lúc mười tháng gọi là thập ngoạt thai hườn đẻ Tiên tử, Phật tử. Chứng quả Thần Tiên. Biết việc quá khứ vị lai hiện tại. Điều thần xuất xác, rồi chẳng nên ham dạo chơi nơi viễn cảnh, sợ lạc Khôn Mẫu mà phải chứng tiểu quả, thiệt hại cho người tu. Xuất thiểu nhập đa.
Chờ nhủ bộ tam niên, dương thần tán kiện thì mới vô hại, muốn đi đâu cũng đặng, mặc ý.
Ngao du bắc cực, biến hóa vô cùng, thần thông quảng đại. Chứng quả Thiên Tiên.
Chừng ấy muốn ở lại trần-thế bồi công lập đức, cứu dân thủy hỏa,
tế thế an bang bao lâu cũng được.
Còn không muốn lo việc trần thế nữa,
thì vào danh sơn động phủ, nhập đại định thêm chín năm đặng luyện hư hườn vô,
luyện cho đến hư hư vô vô.
Thì được chứng quả Đại Giác Kim Tiên là Phật.
Tôi luận sơ đặng chỉ việc đại khái tu luyện cho rỏ nguồn chánh đạo, chớ muốn cho thông hiểu tận tột thì phải khán đơn kinh; trong kinh ấy Tiên Phật chỉ đành rành chớ chẳng dấu ai.
Kẻ nào vọng ngữ rằng: “nói lậu Thiên cơ thì bị Thiên khiển lôi tru” là nói đều phi lý.
Mấy người nói vậy là lòng còn tư kỷ, sợ kẻ đại căn biết lý đạo rồi có hơn mình chăng.
Thì mình là kẻ tu hạ thừa, ai mà tôn trọng mình nữa.
Miệng nói độ người về cõi Thánh, ham đi phổ độ, dạy bậc hạ thừa làm sao mà độ về Trời cho đặng.
Rất uổng công tu, mà vạn kiếp bất đắc kiến tánh. Nói tắt một đều, muốn tu cho về cõi Thánh đặng thì bỏ tình phàm, làm như thể Trời Đất vô tình, thì vào đường Thiên lý mới đặng.
Xét cho cùng lý: Trời Đất không già là Trời Đất vô tình mà động tịnh, nên không hao mòn tam bửu;
còn co người hữu tình động tịnh, nên lần lần hao mòn tam bửu mà phải thác.
Vậy có bài của ông Đạt Ma xuống cơ như vầy:
THÁI THƯỢNG TỔ SƯ NHỰT DỤNG CHƠN KINHĐạo tâm khai tại diệt phàm tâm,
Chúng đẳng y ngôn, vật ngoại tầm;
Luyện đắc linh đơn thiên tải thọ,
Thành Tiên thành Phật quỉ thần khâm.
Saigon, le 1er Janvier 1923.
Văn Vỏ Đạo Nhơn
Phù nhựt dụng giả, ẩm thực tắc định,
Cấm khẩu đoan tọa, mạc khởi nhứt niệm;
Tồn thần định ý, khẩu thần tương niệm,
Xỉ nha tương trứ, nhãn bất thị vật.
Nhĩ bất thính thinh, nhứt tâm nội thủ,
Điều tức miên miên, tiệm tiệm hô xuất;
Mạc giáo gián đoạn, dĩ hữu như vô,
Tự nhiên tâm hỏa giáng, thận thủy thượng thăng.
Khẩu lý tân sanh, linh chơn phụ thể,
Đắc chí trường sanh chi lộ dã.
TẠI GIA HÀNH ĐẠO
Đức Lảo-Tử nói rằng: Phàm sự tu hành thì lấy sự đức hạnh làm sự thật.
Nếu hủy hoại cái thân thể mà nói rằng tu là sự giả.
Nay những kẻ cầu Tiên Phật chỉ lo trốn đời tránh người, nói rằng có thân gia, có thê tử,
có nhơn sự thường hay hại người, bởi cớ ấy mà chẳng hay thành Tiên thành Phật, nên phải tránh người trốn đời mới rằng tu.
Thiệt kẻ ấy chẳng biết đạo Tiên đạo Phật là bất ly thân tâm. (Chẳng lìa cái thân với cái tâm).
Quả hay chánh tâm tu thân, thì có nhà khá ở, có vợ con khá vui, có nhơn sự khá tu luyện. Cho nên tại gia cũng đặng thành Thánh thành Tiên thành Phật, hà tất phải bỏ chỗ thậm tiện, mà làm chỗ bất tiện ấy vậy.
Ông Bạch-Tẩn Lảo-Nhơn kết luận rằng: Nói xuất gia có thể thành Tiên thành Phật, hoặc có người tin. Nói tại gia có thể thành Tiên thành Phật, thì chẳng ai tin cả. Là cớ làm sao? Là bởi vì người chưa thật rõ cái đạo, chưa thật tột cái lý.
Cho nên tưởng rằng Tiên Phật phải xuất gia mới thành đạo,Thánh nhơn cũng phải xuất gia mới thành Thánh nhơn.
Người đời sau trứ tướng chi lắm vậy!
Nếu hủy hoại cái thân thể mà nói rằng tu là sự giả.
Nay những kẻ cầu Tiên Phật chỉ lo trốn đời tránh người, nói rằng có thân gia, có thê tử,
có nhơn sự thường hay hại người, bởi cớ ấy mà chẳng hay thành Tiên thành Phật, nên phải tránh người trốn đời mới rằng tu.
Thiệt kẻ ấy chẳng biết đạo Tiên đạo Phật là bất ly thân tâm. (Chẳng lìa cái thân với cái tâm).
Quả hay chánh tâm tu thân, thì có nhà khá ở, có vợ con khá vui, có nhơn sự khá tu luyện. Cho nên tại gia cũng đặng thành Thánh thành Tiên thành Phật, hà tất phải bỏ chỗ thậm tiện, mà làm chỗ bất tiện ấy vậy.
Ông Bạch-Tẩn Lảo-Nhơn kết luận rằng: Nói xuất gia có thể thành Tiên thành Phật, hoặc có người tin. Nói tại gia có thể thành Tiên thành Phật, thì chẳng ai tin cả. Là cớ làm sao? Là bởi vì người chưa thật rõ cái đạo, chưa thật tột cái lý.
Cho nên tưởng rằng Tiên Phật phải xuất gia mới thành đạo,Thánh nhơn cũng phải xuất gia mới thành Thánh nhơn.
Người đời sau trứ tướng chi lắm vậy!
QUAN ÂM TÂM KINH BÍ GIẢI
Ma ha bác nhã ba la mật đa tâm kinh.
MA HA nghĩa là quãng đại (rộng lớn). Nói đạo là rộng lớn, bao la Thiên Địa (bao trùm Trời Đất) dưỡng dục quần sanh (nuôi nấng đời sống, người cùng cầm thú).
BÁC NHÃ nghĩa là trí huệ, quang minh (minh mẫn sáng láng).
BA LA = bỉ ngạn (bờkia ). Nói đạo hay độ người siêu xuất khổ hải, mà đến bờ kia (là thành Phật).
MẬT ĐA = là mật chi chủng chủng (các thứ mật). Tỷ như các thứ mật hiệp lại thành một tánh. Tức là khi lấy đặng thuốc, cảnh tượng của vạn pháp qui nhứt (muôn phép về một) đặng bày cái ý phản hườn vô cực (trở lại chỗ vô cực) vậy.
TÂM = là nhơn chi bổn nguyên (nguồn cọi con người). Nói cái phép khẩu truyền tâm thọ, là cốt ở nơi trên cái tâm mà dụng công.
KINH = là kỉnh dã (đường tắt) kinh tỷ như con đường tắt, để cho theo mà phản bổn hườn nguyên.
Mười chữ Ma ha bác nhã ba la mật đa tâm kinh là trọn cái đề mục (cái vấn đề, cái mục đích) của kinh này, nên trước tóm nói cái đại khái của kinh vậy.
MA HA nghĩa là quãng đại (rộng lớn). Nói đạo là rộng lớn, bao la Thiên Địa (bao trùm Trời Đất) dưỡng dục quần sanh (nuôi nấng đời sống, người cùng cầm thú).
BÁC NHÃ nghĩa là trí huệ, quang minh (minh mẫn sáng láng).
BA LA = bỉ ngạn (bờ
MẬT ĐA = là mật chi chủng chủng (các thứ mật). Tỷ như các thứ mật hiệp lại thành một tánh. Tức là khi lấy đặng thuốc, cảnh tượng của vạn pháp qui nhứt (muôn phép về một) đặng bày cái ý phản hườn vô cực (trở lại chỗ vô cực) vậy.
TÂM = là nhơn chi bổn nguyên (nguồn cọi con người). Nói cái phép khẩu truyền tâm thọ, là cốt ở nơi trên cái tâm mà dụng công.
KINH = là kỉnh dã (đường tắt) kinh tỷ như con đường tắt, để cho theo mà phản bổn hườn nguyên.
Mười chữ Ma ha bác nhã ba la mật đa tâm kinh là trọn cái đề mục (cái vấn đề, cái mục đích) của kinh này, nên trước tóm nói cái đại khái của kinh vậy.
Quan Tự Tại Bồ Tát
QUAN nghĩa là hồi quan (ngó vào chỗ huyền quan) đặng mà giữ cái đạo.
TỰ TẠI BỒ TÁT nghĩa là tự gia chủ nhơn công (tức là ông chủ nhơn của cái phàm thân). Quan tự tại bồ tát nghĩa là dòm vào chổ huyền quan mà định ông chủ nhơn. Nuôi thần thì phải thâu cái phóng tâm của mình. (Đạo gia gọi: Bá nhựt trúc cơ, là cái thời kỳ này đây).
HÀNH nghĩa là tịnh tâm định ý xong xả, rồi mới hạ thủ dụng công.
THÂM nghĩa là Tâm hỏa hạ giáng ư hải để (hạ thủ là đem cái tâm hỏa xuống tới đáy biển) đặng mà thể luyện tiên thiên chi chơn kim, luyện lấy cái chơn kim của tiên thiên. Giữ định vậy lâu lâu, thì tam muội hỏa là: Quân hỏa, Thần hỏa, Dân hỏa nhóm lại mà nung đúc cái chơn kim ở trong khảm cung.
BÁC NHÃ BA LA. Bác nhã là trí huệ. Ba la là bỉ ngạn. Nói lấy đặng cái chơn dương (tức là chơn kim) đem lên trên, thì phát xuất quang minh trí huệ (minh mẫn sáng láng). Ở hậu thiên trở lại tiên thiên gọi là đáo bỉ ngạn.
MẬT ĐA = là đắc dược cảnh. Là cái cảnh huyền diệu đặng tiểu dược. Các tánh gồm về một tánh tức là vạn phái triều tông, vạn thù qui ư nhứt bổn.
THỜI = là chánh kiến chi thời (cái giờ thấy rõ). Nói giờ này là giờ nhứt dương lai phục (Đạo gia gọi là nhứt dương sơ động) rồi đến lúc dược vật lên trên đơn đảnh vậy.
TỰ TẠI BỒ TÁT nghĩa là tự gia chủ nhơn công (tức là ông chủ nhơn của cái phàm thân). Quan tự tại bồ tát nghĩa là dòm vào chổ huyền quan mà định ông chủ nhơn. Nuôi thần thì phải thâu cái phóng tâm của mình. (Đạo gia gọi: Bá nhựt trúc cơ, là cái thời kỳ này đây).
HÀNH nghĩa là tịnh tâm định ý xong xả, rồi mới hạ thủ dụng công.
THÂM nghĩa là Tâm hỏa hạ giáng ư hải để (hạ thủ là đem cái tâm hỏa xuống tới đáy biển) đặng mà thể luyện tiên thiên chi chơn kim, luyện lấy cái chơn kim của tiên thiên. Giữ định vậy lâu lâu, thì tam muội hỏa là: Quân hỏa, Thần hỏa, Dân hỏa nhóm lại mà nung đúc cái chơn kim ở trong khảm cung.
BÁC NHÃ BA LA. Bác nhã là trí huệ. Ba la là bỉ ngạn. Nói lấy đặng cái chơn dương (tức là chơn kim) đem lên trên, thì phát xuất quang minh trí huệ (minh mẫn sáng láng). Ở hậu thiên trở lại tiên thiên gọi là đáo bỉ ngạn.
MẬT ĐA = là đắc dược cảnh. Là cái cảnh huyền diệu đặng tiểu dược. Các tánh gồm về một tánh tức là vạn phái triều tông, vạn thù qui ư nhứt bổn.
THỜI = là chánh kiến chi thời (cái giờ thấy rõ). Nói giờ này là giờ nhứt dương lai phục (Đạo gia gọi là nhứt dương sơ động) rồi đến lúc dược vật lên trên đơn đảnh vậy.
Chiếu Kiến Ngũ Uẩn Giai Không
UẨN = là tàng dã, chủng dã là cái giống ở ẩn.
NGŨ UẨN = là sắc thọ tưởng hành thức. Uẩn sắc là nghĩa lưu luyến cách trở. Uẩn thọ là nghĩa lãnh nạp, chịu dùng. Uẩn tưởng là nghĩa lo lường. Uẩn hành là nghĩa niệm tưởng chẳng dứt. Uẩn thức là nghĩa biện biệt gần xa xấu tốt.
Ấy là nói cái chơn kim trở về chỗ sơ tánh. Hễ gọi là hườn đơn thì là lúc tấn hỏa, phải hồi quang phản chiếu, đặng kiếm cho thấy cái bổn lai diện mục, là cái chơn tánh của ta.
Giờ này chơn dương, lên soi ngũ uẩn. Cả thảy các âm khí tà khí tiêu hết chẳng còn. Trong lòng tự nhiên không không trống trống, nên các giống uẩn đều chẳng thấy vậy.
NGŨ UẨN = là sắc thọ tưởng hành thức. Uẩn sắc là nghĩa lưu luyến cách trở. Uẩn thọ là nghĩa lãnh nạp, chịu dùng. Uẩn tưởng là nghĩa lo lường. Uẩn hành là nghĩa niệm tưởng chẳng dứt. Uẩn thức là nghĩa biện biệt gần xa xấu tốt.
Ấy là nói cái chơn kim trở về chỗ sơ tánh. Hễ gọi là hườn đơn thì là lúc tấn hỏa, phải hồi quang phản chiếu, đặng kiếm cho thấy cái bổn lai diện mục, là cái chơn tánh của ta.
Giờ này chơn dương, lên soi ngũ uẩn. Cả thảy các âm khí tà khí tiêu hết chẳng còn. Trong lòng tự nhiên không không trống trống, nên các giống uẩn đều chẳng thấy vậy.
Độ Nhứt Thiết Khổ Ách
Nói con người chẳng biết
phản bổn hườn nguyên thì bị âm khí ngăn trở, những quan khiếu của châu
thân chẳng thông, khí chơn dương chẳng lên trên đặng, cho nên còn cái
khổ ách đọa lạc.
Bằng nay các quan khiếu đã thông, khí chơn dương được lên trên, như một mủi tên bắn phủng trống sắt, đi thấu qua tam quan cửu khiếu (ba cửa chín lổ) thì chẳng còn bị âm sơn âm khí cách trở mà chịu khổ ách nữa. Cho nên gọi là độ nhứt thiết khổ ách vậy.
Bằng nay các quan khiếu đã thông, khí chơn dương được lên trên, như một mủi tên bắn phủng trống sắt, đi thấu qua tam quan cửu khiếu (ba cửa chín lổ) thì chẳng còn bị âm sơn âm khí cách trở mà chịu khổ ách nữa. Cho nên gọi là độ nhứt thiết khổ ách vậy.
Xá Lợi Tử
Nói nhơn thân tức là trạch xá (nhà cửa). Lợi tử là kẻ chủ tương của nhơn thân. Lợi tử là cái chơn linh, chơn tánh đó vậy.
Hễ đặng âm dương giao cấu mà biến thành kim đơn xá lợi tử, thì cũng như người đã hoài thai (thọ thai), tựa hồ có tượng anh nhi trong mình vậy. (Chỗ này Đạo gia gọi là thập ngoạt hoài thay. Nghĩa là phải dưỡng thánh thai ít nữa là 10 tháng rồi mới có sản xuất anh nhi).
Hễ đặng âm dương giao cấu mà biến thành kim đơn xá lợi tử, thì cũng như người đã hoài thai (thọ thai), tựa hồ có tượng anh nhi trong mình vậy. (Chỗ này Đạo gia gọi là thập ngoạt hoài thay. Nghĩa là phải dưỡng thánh thai ít nữa là 10 tháng rồi mới có sản xuất anh nhi).
Sắc Bất Dị Không
SẮC = là sắc thân, là cái phàm thân của ta. Hễ được vào trong cảnh yểu minh, thì vạn duyên tịch tịch (muôn
việc đều yên lặng), một vật trần cũng không còn nhiễm đến lòng, thân
thể dường như ngồi trong khí thái hư, nên nói rằng: sắc bất dị không.
Không Bất Dị Sắc
KHÔNG = nghĩa là cái pháp thân. Cái pháp thân thì không tướng tượng chi cả. Cái tướng mà không tướng kêu là pháp thân.
Hể đặng thánh thai kiết tụ hình thể, lộng lộng thẩm thẩm, thì cái tánh Di Đà của ta hay là ông chủ nhơn của ta dụng sự (lảnh phần việc). Cái pháp tướng vọi vọi, nên nói rằng không bất dị sắc vậy.
Hể đặng thánh thai kiết tụ hình thể, lộng lộng thẩm thẩm, thì cái tánh Di Đà của ta hay là ông chủ nhơn của ta dụng sự (lảnh phần việc). Cái pháp tướng vọi vọi, nên nói rằng không bất dị sắc vậy.
Sắc Tức Thị Không
Đây nói
cái công phu ôn dưỡng thánh-thai. Cái sắc thân với cái pháp thân hiệp
là một vóc. Vô nhơn vô ngã (không biết có người mà cũng không biết có
ta), lộn lộn lạo lạo. Có một mình cái chơn không diệu tánh làm chủ mà
thôi. Cái sắc thân không còn lo đến đều chi cả. Đến cái diệu cảnh này,
thì cái sắc thân tức là cái pháp thân, có gì chẳng không, nên nói: Sắc tức thị không.
Không Tức Thị Sắc
Tiên-thiên
hậu-thiên đặp lại làm một, dày-dày nhặt-nhặt, hỗn vầy một khối, thì
cái hà-xa tự nhiên chuyển động, dục bải bất năng (muốn thôi cũng chẳng
đặng). Trong chỗ không lại càng thêm cái không, tiên hậu thiên hiệp
thành một vóc, thì cái chơn không diệu tánh làm chủ sự, cái pháp thân
cũng tức là cái sắc thân.
Tóm luận: thì lúc này là lúc kiết đơn ôn dưỡng, tiên thiên-hậu thiên một khí vầy lại, người cùng ta đều không, âm dương hội hiệp, diệu dụng vô biên (sự huyền diệu dùng không ngằn).
Cái sắc thân tức là cái pháp thân, mà cái pháp thân cũng tức là cái sắc thân.
Cho nên nói: sắc tức thị không, không tức thị sắc vậy.
Tóm luận: thì lúc này là lúc kiết đơn ôn dưỡng, tiên thiên-hậu thiên một khí vầy lại, người cùng ta đều không, âm dương hội hiệp, diệu dụng vô biên (sự huyền diệu dùng không ngằn).
Cái sắc thân tức là cái pháp thân, mà cái pháp thân cũng tức là cái sắc thân.
Cho nên nói: sắc tức thị không, không tức thị sắc vậy.
Thọ Tưởng Hành Thức Diệc Phục Như Thị
Ấy là công
phu lúc hỗn độn. Lúc này thì ngộ cảnh vô tâm (gặp cảnh thì cũng làm
lơ, đừng lưu tâm đến) đối vật vong tình (thấy người thân thiết thì đừng
còn tình thân thiết) kiến như bất kiến (thấy như chẳng thấy). Hành như
vị hành (đi như chưa đi). Thức như bất thức (biết như chẳng biết). Tuy
đến mấy cái cảnh thọ tưởng hành thức, mà cái chơn không diệu tánh của ta cũng tự nhiên vọi vọi chẳng động, diệc phục như thị, (cũng
lại dường ấy) là không không lộng lộng, các cảnh ngoài đời chẳng hay
cảm động mà khuấy rối cái chơn tánh chủ nhơn của ta vậy. Chỗ này gọi là:
Trước ảnh tảo giai trần bất khởi, nguyệt xiêng đàm để thủy vô lang.
Nghĩa là: Bóng tre quét nghạch bụi không dậy, trăng vọi đáy chầm nước
chẳng xao.
Xá Lợi Tử Thị Chư Pháp Không Tướng
Trước nói xá lợi tử là chỉ cái công phu kiết kim đơn, dưỡng thánh thai.
Đây nói xá lợi tử là chỉ lúc thoát thai xuất thần (Đạo gia gọi tam niên nhũ bộ là thời kỳ này).
Khi hoài thai đủ 10 tháng rồi, hễ nghe một tiếng sấm nơi đảnh môn, thì anh nhi xuất hiện (tới ngày sanh tháng đẻ, đạo gia gọi là xuất dương thần). Hễ anh nhi xuất hiện, thì mong trở về nhà. Giờ này chư pháp chư tướng đều phải không cả.
Vả chăng công phu đến xuất thần, thì phải lo ôn-dưỡng nhũ bộ (nuôi cho ấm, cho bú mớm) thủy thăng hỏa giáng, thì phải nghe theo cái phép tự nhiên chẳng khá chấp định cái phép dục thúc hối hả, cho nên nói không pháp.
Anh nhi mới đẻ ra, phải tùy xuất tùy nhập, chẳng khá tham ngoạn mỹ cảnh, chẳng khá rộn trứ hình tượng. Bởi cái dương thần (anh nhi sản xuất gọi là dương thần) chưa được cứng các, chưa có thể đi vững. Nếu ơ hờ trứ tướng, thì hỏng mất, tướng có cũng như không, nên nói là không tướng.
Đây nói xá lợi tử là chỉ lúc thoát thai xuất thần (Đạo gia gọi tam niên nhũ bộ là thời kỳ này).
Khi hoài thai đủ 10 tháng rồi, hễ nghe một tiếng sấm nơi đảnh môn, thì anh nhi xuất hiện (tới ngày sanh tháng đẻ, đạo gia gọi là xuất dương thần). Hễ anh nhi xuất hiện, thì mong trở về nhà. Giờ này chư pháp chư tướng đều phải không cả.
Vả chăng công phu đến xuất thần, thì phải lo ôn-dưỡng nhũ bộ (nuôi cho ấm, cho bú mớm) thủy thăng hỏa giáng, thì phải nghe theo cái phép tự nhiên chẳng khá chấp định cái phép dục thúc hối hả, cho nên nói không pháp.
Anh nhi mới đẻ ra, phải tùy xuất tùy nhập, chẳng khá tham ngoạn mỹ cảnh, chẳng khá rộn trứ hình tượng. Bởi cái dương thần (anh nhi sản xuất gọi là dương thần) chưa được cứng các, chưa có thể đi vững. Nếu ơ hờ trứ tướng, thì hỏng mất, tướng có cũng như không, nên nói là không tướng.
Bất Sanh Bất Diệt Bất Cấu Bất Tịnh
Ấy là cái
thời kỳ dương thần diện bích, là cái công phu luyện thần hườn hư. Thân
ngoại hữu thân (ngoài cái phàm thân có cái pháp thân). Cái pháp thân là
hư linh pháp tướng, thì đâu còn sanh diệt (sống thác).
Ấy là một vầng kim quang, diệu tướng như như, trong sạch không nhiễm chi cả, thì đâu còn cấu tịnh (bụi bặm, sạch sẽ).
Ấy là một vầng kim quang, diệu tướng như như, trong sạch không nhiễm chi cả, thì đâu còn cấu tịnh (bụi bặm, sạch sẽ).
Bất Tăng Bất Giảm Thị Cố Không Trung
Đây nói cái cảnh diện bích hỗn độn, tượng như một hồi ở trong thái hư, thì có gì tăng (là thêm), có gì giảm (là bớt).
Cái Không của chơn không pháp thân đã đến tột chỗ không rồi, tan ra thì thành khí, tụ lại thì thành hình, không chi lưu luyến, không chi trở ngại. Cho nên cái pháp thân ở chốn không trung được lặng lẽ. Ở chốn không trung chẳng có vật chi, nên sự sáng khắp tự nhiên, như ngồi trong chốn thái hư. Ấy là cái diệu cảnh của phép hườn-hư vậy.
Cái Không của chơn không pháp thân đã đến tột chỗ không rồi, tan ra thì thành khí, tụ lại thì thành hình, không chi lưu luyến, không chi trở ngại. Cho nên cái pháp thân ở chốn không trung được lặng lẽ. Ở chốn không trung chẳng có vật chi, nên sự sáng khắp tự nhiên, như ngồi trong chốn thái hư. Ấy là cái diệu cảnh của phép hườn-hư vậy.
Vô Sắc Vô Thọ Tưởng Hành Thức
Trước nói: Thọ tưởng hành thức, diệc phục như thị, là nói cảnh không tướng không tâm.
Đây nói: Vô sắc vô thọ tưởng hành thức, là luận đến cái cảnh giới hườn vô. Ngũ uẩn tra tể (năm giống cặn cáu) đều tiêu hết, nên gọi là vô sắc vô thọ tưởng hành thức.
Đây nói: Vô sắc vô thọ tưởng hành thức, là luận đến cái cảnh giới hườn vô. Ngũ uẩn tra tể (năm giống cặn cáu) đều tiêu hết, nên gọi là vô sắc vô thọ tưởng hành thức.
Vô Nhãn Nhĩ Tỷ Thiệt Thân Ý
Đây nói lục căn đã không. Tuy có nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, là cái vóc của lục căn, mà cái thần của lục căn đều về trong một tánh, tròn sáng chẳng tan, hổn lại một khối.
Nhãn nhĩ tỷ thiệc thân ý trọn chẳng lo việc gì, có lục căn cũng như không lục căn, nên nói: vô nhãn nhĩ tỷ thiệc thân ý.
Nhãn nhĩ tỷ thiệc thân ý trọn chẳng lo việc gì, có lục căn cũng như không lục căn, nên nói: vô nhãn nhĩ tỷ thiệc thân ý.
Vô Sắc Thinh Hương Vị Xúc Pháp
Đây nói lục căn đã không, lục trần (sắc thinh hương vị xúc pháp) cũng
dứt, thì đã nên cái vóc viên minh thanh tịnh (tròn sáng trong sạch)
trống không chẳng trứ vật chi. Đã chẳng trứ vật chi, cũng chẳng lãnh
vật chi, thân thể như không, muôn phép đều không, nên nói: vô sắc thinh hương vị xúc pháp.
Vô sắc là mắt chẳng tham xem. Vô thinh là tai chẳng tham nghe. Vô hương là mủi chẳng tham ngửi. Vô vị là miệng chẳng tham ăn. Vô xúc là lòng chẳng động. Vô pháp là ý chẳng dấy. Cho nên trước gọi lục căn thanh tịnh, còn đây thì gọi lục trần bất nhiễm vậy.
Vô sắc là mắt chẳng tham xem. Vô thinh là tai chẳng tham nghe. Vô hương là mủi chẳng tham ngửi. Vô vị là miệng chẳng tham ăn. Vô xúc là lòng chẳng động. Vô pháp là ý chẳng dấy. Cho nên trước gọi lục căn thanh tịnh, còn đây thì gọi lục trần bất nhiễm vậy.
Vô Nhãn Giới Nãi Chí Vô Ý Thức Giới
Đây nói công phu đã đến cái cảnh đại định, thần quang thâu hết (vô nhãn). Thần quang đã thâu, thì có mắt mà chẳng thấy, bộ như không hay không biết chi hết vậy. Cái vô đã đến tột chỗ vô, thì trở lại chỗ mẹ sanh khi xưa, tịch nhiên bất động (lặng vậy chẳng động) nên mới đến cái cảnh giới vô ý thức.
Vô Vô Minh Diệc Vô Vô Minh Tận
Trước nói vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thinh hương vị xúc pháp. Lục
căn đã không, lục trần cũng dứt. Thần quang ý thức, hết thảy đều thâu
dấu vào trong cái giác tánh viên minh, mà vầy nên một vóc. Có một không
hai. Hễ lục căn đều chẳng lo đến việc chi hết, ấy là cái phản hườn vô
cực. (Trở về chỗ vô cực).
Vô vô minh nghĩa là đương lúc ấy cái tướng chơn không huyền diệu, sáng ngời tỏ rạng, hay soi khắp thập phương tam giới, không chỗ nào chẳng sáng, nên nói: vô vô minh.
Diệc vô vô minh tận nghĩa là sáng đến tột chỗ, xưa cũng như nay, trọn không có ngày cuối cùng vậy, cho nên gọi rằng: diệc vô vô minh tận.
Vô vô minh nghĩa là đương lúc ấy cái tướng chơn không huyền diệu, sáng ngời tỏ rạng, hay soi khắp thập phương tam giới, không chỗ nào chẳng sáng, nên nói: vô vô minh.
Diệc vô vô minh tận nghĩa là sáng đến tột chỗ, xưa cũng như nay, trọn không có ngày cuối cùng vậy, cho nên gọi rằng: diệc vô vô minh tận.
Nãi Chí Vô Lão Tử, Diệc Vô Lão Tử Tận
Nãi chí vô lão tử là
nói:đã luyện thành cái chơn không pháp thân (dương thần) rồi, thì vào
nước chẳng đắm, vào lửa chẳng cháy, lịch kiếp bất hoại, (đời đời chẳng
hư) vạn cổ trường tồn (muôn xưa vẫn còn) thì có đâu già thác đặng, nên
gọi rằng: vô lão tử.
Diệc vô lão tử tận là nói công trình đã đến địa vị Đại Giác Kim Tiên, chỉ thiệt có tích công lụy đức, mà đãi chiếu phi thăng (chờ chiếu trên Thiên Đình triệu mà về) hưởng thiên phước đời đời, muôn kiếp cũng như ngày nay. Trời Đất có hư mà ta chẳng hư, thì đâu có cái ngày cuối cùng phải già thác vậy, nên nói: diệc vô lão tử tận.
Diệc vô lão tử tận là nói công trình đã đến địa vị Đại Giác Kim Tiên, chỉ thiệt có tích công lụy đức, mà đãi chiếu phi thăng (chờ chiếu trên Thiên Đình triệu mà về) hưởng thiên phước đời đời, muôn kiếp cũng như ngày nay. Trời Đất có hư mà ta chẳng hư, thì đâu có cái ngày cuối cùng phải già thác vậy, nên nói: diệc vô lão tử tận.
Vô Khổ Tập Diệt Đạo, Vô Tri Diệc Vô Đắc.
Từ đoạn này về sau, thì luận về cái cảnh giới liễu thủ của phép luyện kim đơn. (Liễu thủ là luyện đạo hoàn toàn vậy).
Trước nói: đã không có ngày cuối cùng già thác, là vì cái tự tánh như như (là cái tánh tự nhiên như lai) trạm nhiên thường tịch (yên vậy thường lặng) lúc này đã hết khổ hạnh, hầu muốn trở về Thiên cung, thì đâu còn cái khổ trầm luân, nên nói: vô khổ.
Tập nghĩa nhóm. Như nay vạn pháp qui nguyên (muôn phép đã về nguồn) sự quả báo của cái thân ta đã trả xong, lại chẳng còn phải hội hiệp tam bửu (tinh khí thần) chẳng còn phải gom tiên thiên tinh, thêm tiên thiên khí nữa, nên nói: vô tập
Diệt nghĩa là (dứt) rồi. Như nay cái rồi (liễu thủ) đã đến tột chỗ, không còn rồi đâu nữa đặng quét cho sạch âm khí nữa, nên rằng: vô diệc.
Đạo là cái phép để độ chúng sanh, đạo là đường đi. Nay tu đã tột địa vị, không còn tu vào đâu nữa đặng, không còn pháp độ nào phải giữ nữa, không còn đường xá nào phải đi nữa, nên rằng: vô đạo.
Trí nghĩa là tri. Tri nghĩa là biết. Đến cái cảnh giới này, phàm những việc quá khứ hiện tại vị lai, chẳng việc nào chẳng biết. Cái biết đã đến tột chỗ rồi; mà hễ đại trí nhược ngu (kẻ có trí lớn thì bộ như kẻ ngu). Lộn vầy coi như không biết chi cả, nên rằng: vô trí.
Diệc vô đắc nghĩa là này thành một cái chơn tánh tròn sáng, vóc như tượng thái hư, chẳng trứ vật, chẳng chịu vật. Đại đạo thành thì muôn vật đều xong, lại còn gì đâu mà đặng nữa, nên rằng: diệc vô đắc.
Trước nói: đã không có ngày cuối cùng già thác, là vì cái tự tánh như như (là cái tánh tự nhiên như lai) trạm nhiên thường tịch (yên vậy thường lặng) lúc này đã hết khổ hạnh, hầu muốn trở về Thiên cung, thì đâu còn cái khổ trầm luân, nên nói: vô khổ.
Tập nghĩa nhóm. Như nay vạn pháp qui nguyên (muôn phép đã về nguồn) sự quả báo của cái thân ta đã trả xong, lại chẳng còn phải hội hiệp tam bửu (tinh khí thần) chẳng còn phải gom tiên thiên tinh, thêm tiên thiên khí nữa, nên nói: vô tập
Diệt nghĩa là (dứt) rồi. Như nay cái rồi (liễu thủ) đã đến tột chỗ, không còn rồi đâu nữa đặng quét cho sạch âm khí nữa, nên rằng: vô diệc.
Đạo là cái phép để độ chúng sanh, đạo là đường đi. Nay tu đã tột địa vị, không còn tu vào đâu nữa đặng, không còn pháp độ nào phải giữ nữa, không còn đường xá nào phải đi nữa, nên rằng: vô đạo.
Trí nghĩa là tri. Tri nghĩa là biết. Đến cái cảnh giới này, phàm những việc quá khứ hiện tại vị lai, chẳng việc nào chẳng biết. Cái biết đã đến tột chỗ rồi; mà hễ đại trí nhược ngu (kẻ có trí lớn thì bộ như kẻ ngu). Lộn vầy coi như không biết chi cả, nên rằng: vô trí.
Diệc vô đắc nghĩa là này thành một cái chơn tánh tròn sáng, vóc như tượng thái hư, chẳng trứ vật, chẳng chịu vật. Đại đạo thành thì muôn vật đều xong, lại còn gì đâu mà đặng nữa, nên rằng: diệc vô đắc.
Dĩ Vô Sở Đắc Cố, Bồ Đề Tác Đỏa.
Dĩ nghĩa
là nhân vì. Nhân vì cái vóc chơn không liễu đặng rồi, nên chẳng cần thọ
nạp vật chi, cái đặng không chỗ khá đặng nữa vậy. Nhưng cái đặng không
chỗ khá đặng nữa chánh nghĩa là không chỗ nào mà chẳng đặng. Cũng như
chốn vô cực, tuy một vật chi cũng không, mà bao hàm muôn cái có vậy.
Cố nghĩa là duyên cớ, là nhân vì cái cớ không chỗ đặng vậy.
Bồ nghĩa là giác ngộ (biết đặng).
Đề nghĩa là thượng thăng (lên trên).
Tát nghĩa là cái cảnh của một cái tánh viên minh (tròn sáng).
Đỏa nghĩa là quả thật cái tượng thành công, thành đạo.
Nói tu hành đến cái địa bộ này, thì cái nhơn cái pháp đều liễu đặng cái không. Cái nhơn (nhơn thân),cái pháp (pháp tướng), đã liễu cái không rồi, thì là thành một vị viên minh diệu giác, tức là Phật Bồ Tát vậy, cho nên nói rằng: bồ đề tát đỏa.
Cố nghĩa là duyên cớ, là nhân vì cái cớ không chỗ đặng vậy.
Bồ nghĩa là giác ngộ (biết đặng).
Đề nghĩa là thượng thăng (lên trên).
Tát nghĩa là cái cảnh của một cái tánh viên minh (tròn sáng).
Đỏa nghĩa là quả thật cái tượng thành công, thành đạo.
Nói tu hành đến cái địa bộ này, thì cái nhơn cái pháp đều liễu đặng cái không. Cái nhơn (nhơn thân),cái pháp (pháp tướng), đã liễu cái không rồi, thì là thành một vị viên minh diệu giác, tức là Phật Bồ Tát vậy, cho nên nói rằng: bồ đề tát đỏa.
Y Bác Nhã Ba La Mật Đa Cố.
Cố nghĩa
là phép tắc. Nói tuân theo phép tắc tu hành rồi, mới phát trí huệ quang
minh đặng, có thần thông biến hóa, thì mới đến bờ kia, mà trở về vô
cực, cùng cái không khí thái hư hổn làm một vóc vậy.
Tâm Vô Khoái Ngại.
Khoái nghĩa là lưu luyến.
Ngại nghĩa là trở cách.
Đến cảnh giới này, thì cái tâm sánh với thái hư, chẳng trứ vật chi cả , xối xối, dội dội, thì có cái gì lưu luyến trở ngại đặng, cho nên nói rằng: Tâm vô khoái ngại. Vô Khoái Ngại.
Đã tu hành kim quang pháp thân chiếu sáng, tròn vìn đỏ chói, tung hoành tự nhiên theo ý, chí hư chí linh, thì trọn không mảy múng gì khoái ngại, tuy ở chốn nhơn gian, thiệt cũng như ở chốn Thiên đàng.
Tâm Vô Khoái Ngại.
Khoái nghĩa là lưu luyến.
Ngại nghĩa là trở cách.
Đến cảnh giới này, thì cái tâm sánh với thái hư, chẳng trứ vật chi cả , xối xối, dội dội, thì có cái gì lưu luyến trở ngại đặng, cho nên nói rằng: Tâm vô khoái ngại. Vô Khoái Ngại.
Đã tu hành kim quang pháp thân chiếu sáng, tròn vìn đỏ chói, tung hoành tự nhiên theo ý, chí hư chí linh, thì trọn không mảy múng gì khoái ngại, tuy ở chốn nhơn gian, thiệt cũng như ở chốn Thiên đàng.
Cố Vô Hữu Khủng Bố.
Đã đến cái cảnh vô khoái
ngại rồi, Trời Đất chẳng hay câu thúc, âm dương chẳng hay đào chú (canh
cải) quỉ thần chẳng hay lén lường, lên Trời xuống Đất đều do sự phương
tiện của ta, thì có đâu phải kinh khủng sợ sệt đến nỗi nhiễu loạn vị
chủ nhơn của ta, nên nói: cố vô hữu khủng bố.
Viễn Ly Điên Đảo Mộng Tưởng.
Viễn nghĩa là lâu dài.
Ly nghĩa là lìa thoát.
Điên nghĩa là nguy hiểm.
Đảo nghĩa là thất bại.
Mộng nghĩa là ảo cảnh.
Tưởng nghĩa là tư lự.
Nói tu hành đến cái cảnh
giới này thì vị chủ nhơn của ta vọi vọi chẳng động, cái chơn tánh rỡ rỡ
sáng tròn, cái tâm an cái thần lặng, cái vóc hiệp tiên thiên hết thải
những sự lo lường về việc hung dữ, nguy hiểm, nên hư, về việc hỷ, nộ,
ai, lạc, mộng mỵ, ảo cảnh, đều lìa thoát trong sạch luôn luôn, nên nói:
viễn ly điên đảo mộng tưởng.
Cứu Cánh Niết Bàn.
Niết nghĩa là bất sanh. Cõi này sống hoài, khỏi phải hạ sanh xuống phàm.
Bàn nghĩa là bất diệt. Không hạ sanh xuống thế gian, thì đâu có thác.
Cứu Cánh nghĩa là cùng tột. Nói nay đã đến cái cảnh cùng tột, thì đã vào cái cảnh bất sanh bất diệt mà chứng cái quả vị liên đài (ngồi tòa sen) đời đời kiếp kiếp vậy.
Bàn nghĩa là bất diệt. Không hạ sanh xuống thế gian, thì đâu có thác.
Cứu Cánh nghĩa là cùng tột. Nói nay đã đến cái cảnh cùng tột, thì đã vào cái cảnh bất sanh bất diệt mà chứng cái quả vị liên đài (ngồi tòa sen) đời đời kiếp kiếp vậy.
Tam Thế Chư Phật.
Tam thế nghĩa là ba đời: một đời quá khứ, một đời hiện tại, một đời vị lai.
Chư nghĩa là chúng (đông).
Phật nghĩa là những bậc đã tu luyện được cái vóc kim cang bất hoại (vàng cứng chẳng hư), mà lại còn nguyện lực hoằng thâm ấy là bậc từ bi độ thế.
Chư nghĩa là chúng (đông).
Phật nghĩa là những bậc đã tu luyện được cái vóc kim cang bất hoại (vàng cứng chẳng hư), mà lại còn nguyện lực hoằng thâm ấy là bậc từ bi độ thế.
Y Bác Nhã Ba La Mật Đa Cố.
Nói tu y theo phép bác nhã ba la mật đa mà
thành đạo, là chẳng phải riêng một mình vị Bồ Tát làm vậy, mà tam thế
chư phật đều phải y theo phép tắc ấy mà dụng công, cần tu khổ hạnh mới
thành đạo vậy.
Đắc A Nậu Đa LaTam Diệu Tam Bồ Đề.
A Nậu là cái xưởng (cái nhà) luyện đơn.
Đa La nghĩa là chúng bửu tựu hội (các báu nhóm hiệp).
Tam diệu là tam huê.
Tam bồ đề là ngươn tinh, ngươn khí, ngươn thần, tam bửu vậy.
Nói tam thế chư Phật đều phải nương theo cái phép bác nhã ba la mật đa này mà tu hành mới đặng chúng bửu mới hội trong cái xưởng luyện đơn. Cái chơn hỏa đúc rèn, thì tam huê mới xuất hiện, nhóm nơi đảnh môn, tam bửu mới kiết thành thử mể huyền châu, diệu giác linh minh, mới chứng vào cỏi Thanh lương Cực Lạc Thiên đời đời kiếp kiếp.
Đa La nghĩa là chúng bửu tựu hội (các báu nhóm hiệp).
Tam diệu là tam huê.
Tam bồ đề là ngươn tinh, ngươn khí, ngươn thần, tam bửu vậy.
Nói tam thế chư Phật đều phải nương theo cái phép bác nhã ba la mật đa này mà tu hành mới đặng chúng bửu mới hội trong cái xưởng luyện đơn. Cái chơn hỏa đúc rèn, thì tam huê mới xuất hiện, nhóm nơi đảnh môn, tam bửu mới kiết thành thử mể huyền châu, diệu giác linh minh, mới chứng vào cỏi Thanh lương Cực Lạc Thiên đời đời kiếp kiếp.
Cố Tri Bác nhã Ba La Mật Đa.
Cố là sở dỉ (chỗ do).
Tri là hiểu đắc (biết đặng, hiểu đặng).
Nói nhân đó mới hiểu đặng rằng: cái công phu bác nhã quang minh, chơn dương lên trên, mà thông đến huyền quang bĩ ngạn, là có một không hai, đã đến chỗ chí cực, nên không lấy chi thêm vô nữa đặng.
Tri là hiểu đắc (biết đặng, hiểu đặng).
Nói nhân đó mới hiểu đặng rằng: cái công phu bác nhã quang minh, chơn dương lên trên, mà thông đến huyền quang bĩ ngạn, là có một không hai, đã đến chỗ chí cực, nên không lấy chi thêm vô nữa đặng.
Thị Đại Thần Chú.
Thần nghĩa là linh ứng cảm thông, huyền diệu mạc trắc.
Chú nghĩa là cái vô cực huyền quang ở trong mình người, cũng còn kêu là tổng trì pháp môn.
Nhân đó mới hiểu đặng rằng: cái bác nhã ba la mật đa, thiệt là cái pháp môn, thần thông quảng đại, biến hóa vô cùng, hay độ tận Thiện nam Tín nữ trong thiên hạ vậy.
Chú nghĩa là cái vô cực huyền quang ở trong mình người, cũng còn kêu là tổng trì pháp môn.
Nhân đó mới hiểu đặng rằng: cái bác nhã ba la mật đa, thiệt là cái pháp môn, thần thông quảng đại, biến hóa vô cùng, hay độ tận Thiện nam Tín nữ trong thiên hạ vậy.
Thị Đại Minh Chú.
Nhân đó mới hiểu đặng rằng:
cái bác nhã ba la mật đa, sáng láng tỏ rõ, hay soi thấu tam giới
(thượng giới, trung giới, hạ giới) thập phương (thập phương địa ngục)
thiệt là cái đại pháp môn cả sáng ca tỏ.
Thị Vô Thượng Chú.
Nhân đó
mới hiểu đặng rằng: cái bác nhã ba la mật đa là cái pháp môn tối cao đệ
nhứt, không có cái nào cao hơn ở trên cái pháp môn này.
Thị Vô Đẳng Đẳng Chú.
Nhân đó
mới hiểu đặng rằng: cái bác nhã ba la mật đa là tối cao đệ nhứt. Chẳng
những không có cái nào cao hơn ở trên pháp môn này, mà nếu muốn cùng
pháp môn này so sánh bậc bình đẳng (nghĩa là đứng bằng với nhau) cũng
không có vậy.
Năng Trừ Nhứt Thiết Khổ.
Hết thảy
những sự khổ não của chúng sanh đều nhân vì chúng sanh mê muội chẳng
biết tu, chẳng biết cái thần chú pháp môn này, cho nên cứ lưu lãng sanh
tử (sanh sanh tử tử) lên lên xuống xuống chịu hết thảy chư bang khỗ
sở.
Như nay mình lên pháp giới (chứng quả liên đài) mới thấy đặng cái thần chú bác nhã ba la mật đa là cái pháp môn quảng đại, hay trừ hết không cùng những sự khổ sở, hay đoạn tuyệt không cùng những đều phiền não vậy.
Như nay mình lên pháp giới (chứng quả liên đài) mới thấy đặng cái thần chú bác nhã ba la mật đa là cái pháp môn quảng đại, hay trừ hết không cùng những sự khổ sở, hay đoạn tuyệt không cùng những đều phiền não vậy.
Chơn Thiệt Bất Hư.
Cái pháp
môn vô cực vô thượng này hay độ hết chúng sanh thành Phật, trừ cả thảy
đều khổ sở, tự mình thấy tự mình đặng, vốn là cái pháp ngữ chơn thật,
chẳng phải lời nói huê mỹ trống trơn.
Cố Thuyết Bác Nhã Ba La Mật Đa Chú.
Tu hành đến đây bổn thân mình thấy đặng cái công hiệu của cái pháp môn bác nhã thần chú là rất lớn không chi so sánh đặng, nên mới nói cái pháp chú kệ ngữ bác nhã ba la mật đa ra để phát minh cho người sau.
Tức Thuyết Chú Viết:
Cái huyền
diệu kệ ngữ này thiên Phật bất cảm khinh tiết (ngàn ông Phật chẳng dám
dễ duôi tiết lậu) vạn Tổ bất cảm loạn ngữ (muôn ông Tổ chẳng dám nói
bởn lộ ra) mà nay nói ra thì cái nguyện lực của Bồ Tát thiệt rộng sâu,
cái lòng phổ độ quần sanh thiệt rất chí thiết vậy.
Yết Đế Yết Đế.
Yết nghĩa là đã khai, (đánh phá cho mở ra).
Đế nghĩa là diệu đề. Diệu đề là cái cán của ngôi huyền quang, cái xu nựu (mối gút) của nhơn thân.
Đánh phá cho cái huyền quang không còn xiềng cột chặc lại nữa, thì cái Càn ngươn diện mục mới xuất hiện đặng, khoái lạc không cùng. Lập nói hai lần tiếng Yết đế, là vã chăng cái diệu đề huyền quang đã chơn thật mà lại cứ chơn thật hoài, là vì con người nên căn dặn vậy.
Đế nghĩa là diệu đề. Diệu đề là cái cán của ngôi huyền quang, cái xu nựu (mối gút) của nhơn thân.
Đánh phá cho cái huyền quang không còn xiềng cột chặc lại nữa, thì cái Càn ngươn diện mục mới xuất hiện đặng, khoái lạc không cùng. Lập nói hai lần tiếng Yết đế, là vã chăng cái diệu đề huyền quang đã chơn thật mà lại cứ chơn thật hoài, là vì con người nên căn dặn vậy.
Ba La Yết Đế.
Đây nói cái pháp môn huyền
quang, tức là cái diệu đề đễ dắt con người đến bờ kia (tu luyện thành
đạo là ở hậu thiên trở lại thiên tiên, Trở lại Thiên Tiên gọi là đáo bỉ
ngạn. Trước có giải rồi).
Phá mở nói ra là chỉ mong hết thảy chúng sanh, người người đều được nhờ đó mà độ thoát khổ hải, đặng lên đến bờ kia vậy.
Phá mở nói ra là chỉ mong hết thảy chúng sanh, người người đều được nhờ đó mà độ thoát khổ hải, đặng lên đến bờ kia vậy.
Ba La Tăng Yết Đế.
Tăng nghĩa là tịnh.
Đây nói cái pháp môn huyền quang, tức là đáo bỉ ngạn, dùng cái diệu đề chứng về tịnh độ gia hương (cỏi tịnh độ là quê hương của ta).
Phá mở nói rõ ra, là chỉ mong cho người làm theo tu luyện, đặng trở về Tây Phương tịnh độ, cho khỏi cái khỗ luân hồi.
Đây nói cái pháp môn huyền quang, tức là đáo bỉ ngạn, dùng cái diệu đề chứng về tịnh độ gia hương (cỏi tịnh độ là quê hương của ta).
Phá mở nói rõ ra, là chỉ mong cho người làm theo tu luyện, đặng trở về Tây Phương tịnh độ, cho khỏi cái khỗ luân hồi.
Bồ Đề Tát Bà Ha.
Bồ đề nghĩa
là giác ngộ, là rõ cái tánh tròn sáng đã đến cảnh chơn không. Cái linh
quang thông khắp Trời Đất. Cái pháp thân dường như khí thái hư.
Tát Bà Ha là hết thảy chúng sanh mau mau thành tựu. Nói tu luyện đến cái địa vị này, công trình viên mãn, thì lên chầu Chư Thiên. Rồi phải tức tốc đi thuyết pháp mà độ chúng sanh, cho hết thảy chúng sanh được thành tựu, vượt ra ba cỏi, đồng về Thanh lương mỹ cảnh, vĩnh chứng Cực lạc gia hương, thọ hưởng bất tận, khoái lạc vô cùng.
Tát Bà Ha là hết thảy chúng sanh mau mau thành tựu. Nói tu luyện đến cái địa vị này, công trình viên mãn, thì lên chầu Chư Thiên. Rồi phải tức tốc đi thuyết pháp mà độ chúng sanh, cho hết thảy chúng sanh được thành tựu, vượt ra ba cỏi, đồng về Thanh lương mỹ cảnh, vĩnh chứng Cực lạc gia hương, thọ hưởng bất tận, khoái lạc vô cùng.
No comments:
Post a Comment