Ý nghĩa ngày lễ Vía Trời mùng chín tháng Giêng
Vài tên gọi của ngày mùng 9 tháng Giêng
Ngày xưa, khi đi làm đồng, trai gái hay hò vè đối đáp thử tài nhau, vừa để cho vui quên nhọc mệt, vừa để có dịp làm quen hay kín đáo bày tỏ tình cảm. Có cô gái đố chàng trai thế này:
Thấy anh hay chữ, em hỏi thử đôi lời,
Thuở tạo thiên lập địa ông Trời tròn ai xây?
Như
thế là hỏi khó chàng trai, vì đâu ai biết Trời sinh ra do đâu và sinh
ra từ lúc nào. Nhưng dân gian lại cho ngày mùng 9 tháng Giêng âm lịch là
ngày vía Trời.
Vía là tiếng Việt cổ. Huỳnh Tịnh Paulus Của giảng: "Ngày vía: Ngày sinh" [1]
Lại giảng thêm: “Mồng chín vía Trời, mồng mười vía Đất: Ngày mồng 9 mồng 10 tháng Giêng thói tục hay cúng Trời cúng Đất, hiểu là ngày Trời Đất sinh.”
Chữ Hán gọi ngày sinh là đản nhật 誕日, nói tắt là đản 誕. Ngày sinh của Phật gọi là Phật Đản 佛誕. Ngày mừng Chúa Giêsu giáng sinh gọi là Thánh Đản Tiết 聖誕節 (tiết: ngày mừng).
Chữ Hán cũng gọi mừng ngày sinh là Khánh Đản 慶誕 (khánh: mừng). Đức Lý Giáo Tông đã gọi ngày mùng 9 tháng Giêng là ngày Khánh Đản Đức Chí Tôn, tức là ngày mừng Trời sinh ra:
“Chư
hiền đệ muội! Hôm nay, ngày này nơi thế gian cũng là ngày Khánh Đản Đức
Chí Tôn Thượng Phụ. Chư Phật, chư Tiên khắp tam thập lục thiên, tam
thiên thế giới đều đến triều phục, hỷ chúc thâm ân đức háo sanh Chúa Tể muôn loài vạn vật.” [2]
Ngày mùng 9 tháng Giêng được Đức Pháp Lực Kim Tiên (Nguyễn Bửu Tài) gọi bằng một tên khác:
“… Lời nói đầu tiên là Tiên Huynh rất cảm động và hoan hỷ được thấy tinh thần thương Thầy mến Đạo của các em trong ngày lễ Cửu Thiên Khai Hóa này…” [3]
Cửu Thiên Khai Hóa 九天開化 có nhiều cách giảng khác nhau. Căn cứ theo ngữ cảnh của đoạn thánh giáo trên, có thể giảng như sau:
Cửu Thiên: Chín phương trời, nói chung là cả vũ trụ.
Khai Hóa: Mở mang, giáo hóa về văn minh, phong tục, đạo đức.
Cửu Thiên Khai Hóa là đấng có công giáo hóa cho tất cả càn khôn thế giới, tức là Đức Chí Tôn Thượng Đế.
Ngày mùng 9 tháng Giêng là tín ngưỡng Trung Quốc xa xưa
Từ điển bách khoa điện tử Wikipedia (chữ Hán) cho biết hai chi tiết:
1. Sách Lãi Hải Tập của Vương Quỳ đời Minh chép: “Thần minh giáng sinh, lấy nghĩa khởi lên. Ngọc Đế sinh ngày mùng 9 tháng Giêng; số dương bắt đầu là 1 mà cực điểm là 9. Khởi đầu phải có kết thúc.” [4]
2. Sách Nguyệt Lệnh Minh Nghĩa của Hoàng Đạo Chu đời Minh chép: “Ngày mùng 9 tháng Giêng, các thần trên trời và dưới đất triều bái Tam Thanh Ngọc Đế. Ngày mùng 9 là ngày sinh của Ngọc Hoàng Đại Đế.” Sách Nguyệt Lệnh Chú Giải của Hoàng Thích đời Thanh cũng chép tương tự như vậy.[5]
3. Trong một bài viết Hán-Anh tại một mạng giáo dục của Đài Loan , có mấy chữ sau: Chính nguyệt sơ cửu nhật Thiên Công sinh đương thiên. 正月初九日天公生當天 , và được dịch sang tiếng Anh là “the ruler of heaven born on the same day on the annual the ninth day of the first month of the lunar calendar”.[6]
Như thế, Thiên Công (ông Trời) sinh vào ngày mùng 9 tháng Giêng.
4. Về tục thờ Ngọc Hoàng vào ngày mùng 9 tháng Giêng (the worship of the Jade Emperor God 玉皇) của người Hoa ở tỉnh Phúc Kiến 福建,
có người nói rằng ngày này được chọn là do ý nghĩa xa xưa của con số 9.
Theo kinh Dịch, quá trình tiến hóa gồm có chín giai đoạn, số 1 là giai
đoạn đầu tiên, số 9 là viên mãn. Do đó chọn ngày thứ chín của đầu năm
mới là ngày sinh của Trời.[7]
Ngày vía Trời không phải là ngày tế Trời trong lễ Nam Giao
Ngày xưa các vua tế Trời qua lễ Nam Giao (cũng gọi tế Giao). Lễ này không trùng với ngày mùng 9 tháng Giêng.
Triều đình Trung Quốc khi xưa tổ chức tế Nam Giao vào ngày Đông Chí. Ngày Đông Chí luôn luôn nằm trong tháng 11 âm lịch (cũng gọi là tháng Tý).
Tự điển Khang Hy, mục từ Giao, giải
thích: Ngày Đông Chí tế Trời ở vùng ngoại thành phía Nam, ngày Hạ Chí
tế Đất ở vùng ngoại thành phía Bắc. Cho nên gọi tế Trời Đất là Giao.[8]
Ở
Việt Nam, đời nhà Nguyễn, lúc đầu mỗi năm tế Giao một lần vào tháng 2
âm lịch (tháng Mão). Đến năm 1890 (năm Thành Thái thứ hai), thì cách ba
năm mới tế Giao một lần vào tháng 2 âm lịch. Bộ
phận chuyên trách về lịch và thiên văn của triều đình là Khâm Thiên
Giám sẽ chọn một ngày tốt trong tháng 2 âm lịch để tế Giao.
Lễ
tế Giao cuối cùng của nhà Nguyễn diễn ra ngày 23-3-1945 (10-02 Ất Dậu)
dưới triều vua Bảo Đại. Trước đó ba năm, lễ tế Giao được tổ chức vào đêm
28 rạng ngày 29-3-1942, tức là giờ Tý ngày 13-02 Nhâm Ngọ. [9]
* * *
Lễ
vía Trời tổ chức vào đầu mùa xuân, tháng Giêng, ngày mùng 9, giờ Tý.
Các thời điểm này hàm ngụ ý nghĩa đạo lý có liên quan tới việc tu học và
hành đạo.
Ý nghĩa chọn mùa xuân làm lễ vía Trời
1. Mùa xuân ứng với phương Đông 東
Bài khai kinh trong đạo Cao Đài mở đầu như sau:
Biển trần khổ vơi vơi trời nước,
Ánh thái dương giọi trước phương Đông…
Mặt
trời (thái dương) mọc ở phương Đông nghĩa là bình minh xuất hiện, xóa
tan màn đêm hắc ám. Ngụ ý sâu xa là ánh sáng của đạo pháp xuất hiện để
xóa tan tội lỗi, giải trừ vô minh và đau khổ của chúng sinh. Chọn ngày vía
Trời vào mùa xuân ứng với phương Đông (hướng mặt trời mọc) hàm ngụ ý
nghĩa Thượng Đế là nguồn sáng của đạo pháp cứu độ thế gian.
Khi
hành lễ vía Trời vào ngày mùng 9 tháng Giêng, người đạo Cao Đài tự nhắc
nhở mình hãy học và hành theo gương cứu độ của Thượng Đế. Tức là cố
gắng học đạo cho thông suốt, rồi đem đạo lý của Thầy mà tích cực thi
hành trong công cuộc Phổ Độ Kỳ Ba.
2. Mùa xuân ứng với hành Mộc 木
Mùa xuân thảo mộc đâm chồi nảy lộc, vạn vật dồi dào sức sống. Chọn ngày vía
Trời vào mùa xuân ứng với hành Mộc hàm ngụ ý nghĩa Thượng Đế là nguồn
sống, là đức hiếu sinh hằng sinh thành và trưởng dưỡng vạn vật. Đức Chí
Tôn dạy:
Con có thánh tâm sẽ có Thầy,
Thầy là Cha Cả khắp Đông Tây.
Tây Đông dù biết hay không biết,
Khi
hành lễ vía Trời vào ngày mùng 9 tháng Giêng, người đạo Cao Đài tự nhắc
nhở mình hãy học và hành theo đức hiếu sinh của Thượng Đế. Tập đức hiếu
sinh thì khởi đầu là ăn chay để tôn trọng mạng sống các con vật do Trời
tạo ra. Phải tập ăn chay bằng cách giữ trai kỳ (mỗi tháng một số ngày)
cho đến khi có thể giữ trường trai (ăn chay quanh năm).
3. Mùa xuân ứng với đức Nhân 仁
Ngũ đức là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Chọn ngày vía Trời vào mùa xuân ứng với đức Nhân (tình thương yêu) hàm ngụ ý nghĩa Thượng Đế là tình thương, là Đại Từ Phụ.
Ðầu năm Mậu Thìn (1928),[11] Đức Chí Tôn dạy:
“Thầy
thường nói với các con rằng Thầy là cha của sự thương yêu, là do bởi
thương yêu mới tạo thành thế giới và sanh dưỡng các con. Vậy các con
cũng sản xuất nơi sự thương yêu ấy.”
(…) “Sự
thương yêu là giềng bảo sanh của càn khôn thế giới. Bởi thương yêu vạn
loại hòa bình, càn khôn an tịnh. An tịnh mới khỏi thù nghịch lẫn nhau,
mới không tàn hại nhau. Không tàn hại nhau mới giữ bền cơ sanh hóa.” [12]
Khi
hành lễ vía Trời vào ngày mùng 9 tháng Giêng, người đạo Cao Đài tự nhắc
nhở mình hãy học và hành theo tình thương yêu của Thượng Đế. Chỉ có
tình thương mới là lễ phẩm xứng đáng nhất để dâng lên Đức Chí Tôn. Thầy
dạy:
"Thương nhau, tặng vật hiến dâng Thầy...” [13]
4. Mùa xuân ứng với đức Nguyên 元
Quẻ Càn có bốn đức Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Trong đó đức Nguyên nghĩa là đầu tiên, lớn hơn hết, trùm mọi điều thiện. Chọn ngày vía
Trời vào mùa xuân ứng với đức Nguyên hàm ngụ ý nghĩa Thượng Đế là đầu
mối lớn nhất sinh ra vạn vật, là đức tốt lành lớn nhất chở che và bảo
tồn vạn vật.
Khi
hành lễ vía Trời vào ngày mùng 9 tháng Giêng, người đạo Cao Đài tự nhắc
nhở mình hãy học và thực hành sứ mạng đại thừa theo lời Đức Mẹ dạy:
“Các
con ôi! Như các con đã hiểu, mùa xuân là một mùa trong bốn mùa ứng với
lý Đạo, là nó ở vào đạo Kiền, đức của nó là đức Nguyên. Nguyên là khởi
đầu, là nơi phát xuất sự sinh tồn cho muôn loài vạn vật. Vậy thì các con
hưởng xuân, vui xuân, chúc xuân, không cứ là một mùa xuân ngắn ngủi hạn
định như cánh mai kia, mà để nhắc nhở, khêu gợi cho các con một tấm lòng xuân trường cửu của đạo lý, của đức Nguyên trong bốn đức, của một mùa trong bốn mùa.
“Mùa
xuân chỉ cho sự phát sinh sức sống cho vạn loài, không giới hạn, không
đóng khung vào một hoàn cảnh, một thời gian nào, vì Đạo theo đức Nguyên
là thể hiện được lòng Trời, thương yêu dưỡng dục chan hòa mọi kẻ mọi
nơi, không riêng tư, không cá biệt, làm cho thiên hạ nên, mọi người được
yên ổn mà không thấy mình là kẻ tạo nhân hay ân nhân của thiên hạ.
“Các
con là những sứ mạng mà Mẹ đã phó giao từ những xuân rồi. Hãy thể theo
mùa xuân vĩnh cửu của đức Nguyên ấy mà hành đạo độ đời. Các con xem mình
là mùa xuân, là đạo chan hòa khắp cả thế nhân mà không còn thấy có mình
nữa.”[14]
Ý nghĩa chọn tháng Giêng làm lễ vía Trời
1. Tháng Giêng là tháng Dần 寅, ứng với con người
Đời
vua Hán Vũ Đế năm 104 trước Công Nguyên đã theo lịch nhà Hạ (2205-1766
trước Công Nguyên) gọi tháng Giêng là tháng Dần. Kinh sách xưa truyền
rằng: Trời lập ở Tý, Đất lập ở Sửu, Người sinh ở Dần.[15] Chọn ngày vía
Trời vào tháng Giêng hay tháng Dần ứng với con người hàm ngụ ý nghĩa
Thượng Đế và con người có tương quan (Trời chẳng xa người) hay là Thiên
nhân hiệp nhất. Đức Chí Tôn dạy:
Con là một thiêng liêng tại thế,
Cùng với Thầy đồng thể linh quang.[16]
Đức Chí Tôn còn dạy:
“Các
con khá biết rằng Thầy hằng nói Thầy là các con, các con tức là Thầy.
Có Thầy mới có các con, mà có các con rồi mới có chư Tiên Phật, Thánh
Thần, thì người là tiểu thiên địa. Điểm linh quang nào muốn tạo Phật tác
Tiên cũng phải đầu thai vào thế giới hữu hình vật chất. Dầu cho một vị
Đại La Thiên Đế giáng trần đây không tu luyện cũng khó mong trở lại.” [17]
Khi
hành lễ vía Trời vào ngày mùng 9 tháng Giêng, người đạo Cao Đài tự nhắc
nhở mình hãy nhớ tương quan giữa Trời và người, cố gắng tu học và hành
đạo để giải thoát đúng như lời Đức Đại Tiên Lê Văn Duyệt dạy:
Tu hành là học làm Trời,
Phải đâu kiếp kiếp làm người thế gian.
2. Tháng Giêng ứng với quẻ Địa Thiên Thái 地天泰
|
|
Quẻ Thái mang ý nghĩa tốt lành, hanh thông (suôn sẻ). Quái từ quẻ Thái viết: Thái: cái nhỏ đi khỏi, cái lớn tìm đến, tốt lành, suôn sẻ [18]
|
Quẻ Thái còn mang ý nghĩa trời đất giao cảm, muôn vật hòa hài, trên dưới tương giao thông cảm và chí hướng không trái nghịch nhau.
Khi
hành lễ vía Trời vào ngày mùng 9 tháng Giêng, người đạo Cao Đài tự nhắc
nhở mình hãy nhớ ý nghĩa của quẻ Thái để trong khi đến thánh sở tu học
và hành đạo, làm công quả, mỗi người ý thức giữ gìn hòa khí để việc đạo
được thông suốt. Đó cũng là điều Đức Chí Tôn hằng mong đợi ở đàn con:
Chẳng quản đồng tông mới một nhà,
Cùng nhau một Đạo tức một Cha.
Nghĩa nhân đành gởi thân trăm tuổi,
Dạy lẫn cho nhau đặng chữ hòa.[19]
Ý nghĩa chọn ngày mùng 9 làm lễ vía Trời
Dịch
học chia ra số âm gồm các số chẵn (ngẫu) 2, 4, 6, 8, 10; các số dương
gồm số lẻ (cơ) như 1, 3, 5, 7, 9. Số 9 là tổng số của ba số dương
(1+3+5) và là số dương lớn nhất nên số 9 còn gọi là lão dương.
Số 9 được xem là số hoàn hảo, tốt đẹp nhất. Ngày xưa vua gọi là đấng cửu
trùng, chỗ vua ngồi gọi là ngôi cao chín bệ (cửu trùng 九重). Chọn ngày 9 làm lễ vía Trời hàm ngụ ý nghĩa Trời là vua của càn khôn vũ trụ và Trời là đấng hoàn thiện, hoàn hảo.
Khi
hành lễ vía Trời vào ngày mùng 9 tháng Giêng, người đạo Cao Đài tự nhắc
nhở mình hãy nhớ chỉ có Trời mới hoàn thiện, hoàn hảo. Trái lại, còn là
con người thì còn lầm lỗi, dễ gây tổn thương cho nhau.
Do đó hằng ngày cúng thời, đọc Ngũ Nguyện tới câu “Tam nguyện xá tội đệ tử”, người đạo Cao Đài tự nhắc nhở mình hãy nhớ lời dạy của Đức Giáo Tông Ban Chỉnh Đạo Nguyễn Ngọc Tương:
“Trước tiên chúng ta phải xá tội chúng sanh, khoan dung, đại độ, từ ái, tha thứ và xá tội kẻ khác, Thượng Đế mới dễ xá tội cho ta.” [20]
Ý nghĩa chọn giờ Tý làm lễ vía Trời
Giờ Tý của một ngày tương ứng với quẻ Địa Lôi Phục 地雷復, đó là giờ Nhất dương sinh, một hào dương (cái thiện) phát sinh và bớt một hào âm (bớt một cái xấu).
|
|
Về
mặt đạo đức hay tu thân lập hạnh, quẻ Phục liên quan tới sự sửa chữa
lỗi lầm bản thân để trở về con đường chính đại quang minh.
|
Về
mặt triết lý, quẻ Phục liên quan tới ý nghĩa phục hồi nhân bản tức là
làm lại giá trị của con người vốn đã bị tham dục làm cho hư hao, mất
mát.
Về mặt đạo pháp, quẻ Phục liên quan tới việc tu thiền để phục hồi bản vị con người tức là Thượng Đế tính.
Hiểu như thế, mỗi khi hành
lễ vía Trời vào ngày mùng 9 tháng Giêng, giờ Tý, người đạo Cao Đài tự
nhắc nhở mình hãy nhớ ý nghĩa của quẻ Phục để phục hồi cho mình cả ba
phương diện đạo đức, triết lývà đạo pháp như nói trên.
Đó
cũng là thực hành con đường chân lý mà Đức Chí Tôn đang mở ra cho nhân
loại Kỳ Ba. Con đường đó đã được Đức Đại Tiên Lê Văn Duyệt xác định như
sau:
“Thượng Đế Chí Tôn đã mở con đường cho nhân loại trở về với Thượng Đế – Con người cho thiệt con Người.” [21]
* * *
Tóm
lại, không phải ông Trời sinh ra ngày mùng 9 tháng Giêng. Tuy nhiên giờ
Tý ngày mùng 9 tháng Giêng được Thánh Nhân xa xưa lựa chọn để làm lễ
kính mừng ngày vía Trời bởi vì những thời điểm về giờ, ngày, tháng, mùa
đều ẩn tàng ý nghĩa đạo lý thâm sâu. Qua việc tìm hiểu các ý nghĩa đó,
người tu có thể đem ứng dụng vào việc tu thân, hành đạo để tiến hóa từ
phàm nhân thành một bậc thiêng liêng, tiểu linh quang trở về với Trời là
Đại Linh Quang.
16.11.2007
Bổ túc 26.8.2011
HUỆ KHẢI
(trích trong "Một Góc Nhìn Văn Hóa Cao Đài", Nxb Tôn Giáo 2011, tr. 113-124)
* Bài
nói chuyện tại thánh tịnh Ngọc Điện Huỳnh Hà, 18.00 giờ, 07-10 Đinh Hợi
(Chủ Nhật 16-11-2007). Một phần bài viết đã đăng nguyệt san Công Giáo Và Dân Tộc, số 157 (Xuân Mậu Tý, tháng 01-2008).
[1] Huỳnh Tịnh Paulus Của. Đại Nam Quấc Âm Tự Vị. Tome II. M-X. Sài Gòn: Imp. Rey, Curiol & Cie, 1896.
[2] Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, 09-01 Quý Sửu (11-02-1973).
[3] Tòa Thánh Châu Minh, 09 rạng 10-01 Canh Tuất (15-02-1970).
[4] 明王逵 “蠡海集” 記載: “神明降誕, 以義起者也. 玉帝生於正月初九日者, 陽數始於一, 而極於九, 原始要終也.” Minh Vương Quỳ Lãi Hải Tập
ký tái: “Thần minh giáng đản, dĩ nghĩa khởi giả dã. Ngọc Đế sinh ư
chính nguyệt sơ cửu nhật giả, dương số thủy ư nhất, nhi cực ư cửu,
nguyên thủy yếu chung dã.” (Dẫn theo Lê Anh Minh)
[5] 明黄道周的 “月令明義”: “正月初一日, 天神地祇朝三清玉帝; 初九日, 玉皇大帝聖誕.” 清黄奭的 “月令註解” 也有類似記載. Minh Hoàng Đạo Chu đích Nguyệt Lệnh Minh Nghĩa:
“Chính nguyệt sơ nhất nhật, thiên thần địa kỳ triều Tam Thanh Ngọc Đế;
sơ cửu nhật, Ngọc Hoàng Đại Đế thánh đản.” Thanh Hoàng Thích đích Nguyệt Lệnh Chú Giải dã hữu loại tự ký tái. (Dẫn theo Lê Anh Minh)
[6] http://www.ntl.edu.tw/publish/publish.asp?pid=50&mkey=617.
[7] Why the ninth day of the first month? The date probably reflects the ancient significance of the number 9.
According
to the I Ching, the oldest known book expressing the dialectical
philosophy of the Chinese, the evolution of all forces undergo 9 phases.
Whereas the number 1 signifies the first step of a positive movement,
the number 9 marks the highest point of any evolution. After the
completion of a full cycle, forces return to a new starting point.
By
this logic, the last day of the first nine-day cycle of the new year
marks the day of the Sky-God, or God of Heaven. When the Jade Emperor
became identified as the God of Heaven, his “birthday” was also deemed
to fall on this day.
(http://www.xiaoen.org/cultural/magazine...)
[8] Đông Chí tự Thiên vu Nam Giao, Hạ Chí tự Địa vu Bắc Giao. Cố vị tự Thiên Địa vi Giao. 冬至祀天于南郊, 夏至祀地于北郊. 故謂祀天地為郊. (Dẫn theo Lê Anh Minh)
[9] Theo bài viết của Paul Boudet, Giám Đốc Nha Lưu Trữ Và Thư Viện Đông Dương, viết tháng 3-1942 gửi cho Indochine Hebdomadaire Illustré
(Tuần Báo Đông Dương Minh Họa), với nhan đề “Le Nam Giao, Sacrifice au
Ciel et à la Terre” (Nam Giao, Lễ Tế Trời Và Đất). Bài báo này nằm trong
hồ sơ số 2148 của phông tài liệu lưu trữ “Nha Lưu Trữ Và Thư Viện Đông
Dương” của Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I (Cục Văn Thư Và Lưu Trữ Nhà
Nước).
(http://icd.dienbien.gov.vn/diendan/archive/index.php/t-965.html.)
[10] Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, 15-01 Đinh Tỵ.
[11] Theo Hương Hiếu, Đạo Sử Xây Bàn, quyển 2 (1925-1929).
[12] Đoạn thánh ngôn này chỉ khác vài chữ so với bài thánh giáo ngày 12-12 Kỷ Tỵ (11-01-1930) in trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, quyển 2 (bản in 1966, tr. 69).
[13] Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Thánh Giáo Sưu Tập Năm Mậu Thân Và Kỷ Dậu (1968-1969). Hà Nội: Nxb Tôn Giáo, 2010, tr. 230.
[14] Thánh tịnh Ngọc Minh Đài, 01-01 Tân Hợi (27-01-1971).
[15] Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, Nhân sinh ư Dần. 天開於子, 地闢於丑, 人生於寅.
Khi
chắp tay tín đồ đạo Cao Đài để đầu ngón cái bàn tay trái bấm vào chân
ngón áp út bàn tay trái (cung Tý, phần Trời) rồi quặp bốn ngón kia lại
thành nắm tay; bàn tay phải bao bên ngoài nắm tay trái, đầu ngón cái bàn
tay phải bấm vào chân ngón trỏ bàn tay trái (cung Dần, phần Người).
[16] Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Thánh Giáo Sưu Tập Năm Bính Ngọ Và Đinh Mùi (1966-1967). Hà Nội: Nxb Tôn Giáo, 2010, tr. 68.
[17] Đại Thừa Chơn Giáo. Hà Nội: Nxb Tôn Giáo: 2011, tr. 152. (Quyển số 36 trong Chương Trình Chung Tay Ấn Tống Kinh Sách Cao Đài.)
[18] Thái: tiểu vãng đại lai, cát hanh. 泰: 小往大來, 吉,亨.
[19] Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.
[20] Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Thánh Giáo Sưu Tập Năm Bính Ngọ Và Đinh Mùi (1966-1967). Hà Nội: Nxb Tôn Giáo, 2010, tr. 283.
[21] Thánh tịnh Ngọc Minh Đài, 10-5 Nhâm Tý (20-6-1972).
No comments:
Post a Comment