Tây-trúc thời kỳ dụng
Thích-Ca,
Vương-môn để tiếng cậy
Di-Đà,
Thánh phàm phân-biệt
Du-Đà-Luận,
Mẫu tự kinh tàng
Tát-Đãng-Đa.
Chơn-Thể, Chơn-Thân đam
Phật-Tánh,
Ngôn hành, ngôn sắc, dạy
ta bà.
Giác-mê Thầy chyuển
Tam-Kỳ Đạo,
Thế giới từ đây Một với
Cha.
Đêm trong trắng, trắng
trong như lọc,
Nghe tiếng con Mẹ phút
chạnh lòng;
Bởi con mến chốn bụi
hồng,
Nên con tách Mẹ rùng
rùng ra đi.
Tưởng ra đi mảng kỳ trở
lại,
Nào dè con chẳng đoái
chẳng hoài;
Ra đi Mẹ dặn một hai,
Một hai phải tránh chông
gai cuộc đời.
Dặn con phải giử lời sau
trước,
Bước hồng-trần là nước
quỉ ma;
Dặn con chớ khá ta-bà,
Dặn con chớ khá kê cà mải mê.
Dặn con nhớ cảnh quê làm
trọng,
Dặn con thường để bụng
nằm lòng;
Rằng loài ma quỉ phải
phòng,
Rằng loài lưởi mối nọc
ong phải ngừa.
Dặn con phải sớm trưa
kink-kệ,
Dặn con đừng bê trể
công-trình;
Dặn con Mẹ dặn
đinh-ninh,
Dặn con phải giử phải gìn
tấm thân.
Dặn con biết mấy lần
trân trọng,
Mà con đành rẻ rúng lời
khuyên;
Con đành gây cuộc nảo
phiền,
Con đành gây cuộc
trần-duyên lao-lồng.
Nay con thấm bẩy vòng
cắn-xé,
Con mới đành nhớ Mẹ sao
con;
Con ôi ! Lòng Mẹ héo don
!
Con ôi thân Mẹ vì con hao
gầy.
Rày con được Ơn Thầy
cưú-độ,
Đem con về phải chổ phải
nơi;
Khuyên con dạy phải nghe
lời,
Khuyên con chớ khá giởn
chơi ích gì ?
Tu phải biết Qui-Y làm
báu,
Qui-Y là nương-náu cửa
Trời;
Tu cho kịp tiết kịp
thời,
Tu đừng xao lãng nhửng
lời Mẹ răng.
Nầy lời Mẹ ân-cần
nhắc-nhở,
Thấy con thơ Mẹ ưá đôi
hàng;
Thương con trước chụi
lạc đàng,
Con ôi phận gái gian-nan
não-nề.
Thương con gánh nhiều bề
cay đắng,
Thương con dầm lưả nắng
nước sương;
Con ôi phận gái
đoạn-trường,
Con ôi phận gái
chải-bương mới thành.
Tu phải biết việc lành
việc dử,
Tu chừa lòng bẩy lự ba
lo;
Thầy đà sau trước dặn
dò,
Thầy đà chực sẵn chiếc
đò Lý-Chơn.
Đò Chơn-Lý Chủ-Nhơn đả
chọn,
Chơn qua đò khỏi tốn
khỏi hao;
Miểng con trong trắng
một màu,
Miễng con sau trước
trước sau một niềm.
Tu phải giử lặng êm là
gốc,
Tu phải chừa cái nọc nhiều lời;
Con ôi tai họa khắp nơi,
Tại người uốn lưởi khô
môi hại mình.
Chử một dạ kỉnh-thành
làm trước,
Lòng đừng lo họa, phước,
có, không;
Có, không là luật
chí-công,
Có, không, cũng tại nơi
lòng các con.
Đêm thanh-vắng con tròn
phận sự,
Đọc Kinh thì ráng giử
lấy mùi;
Đừng ngâm chót lưởi đầu
môi,
Mẹ còn lui tới, tới lui
phân trần.
Đọc Kinh phải cân phân
từ tiếng,
Tiếng Kinh là Kinh-Điển
của Thầy;
Đọc Kinh gẫm được mùi
hay,
Dẩu cho sắt, đá, cỏ,
cây, cũng thành.
Gái cần giử thân danh làm trước,
Kế quỉ ma nhiều nước
tinh yêu;
Êm tai sáo quyển lòn
chiều,
Nếu con nhắm mắt nghe
liều hư thân.
Mẹ đả dạy nhiều lần cặn
kẽ,
Quỉ thường xưng tên Mẹ
lắm con;
Con nào gan yếu dạ non,
Nghe lời bưng bợ
ngọt-ngon phải lầm.
Cách đi, đứng, ngồi,
nằm, cẩn-thận,
Điệu mõng mềm ấy phận
người tu;
Tránh xa tiếng quến lời
rù,
Tránh xa nhửng bợm giả
mù sa mưa.
Thấy nhiều trẻ bơ-thờ
hõng-hẻo,
Tướng diệu-dàng yễu-điệu
khá thương;
Tại sao mang số đoạn
trường,
Tại quên những tiếng
nghiả phương ngọc-ngà.
Thương con dại thiềt-tha
tha-thiết,
Vui vẻ chi mài-miệt cõi
trần;
Con ôi xét lấy nàng
Hằng,
Trọn năm được thấy mấy
lần đẹp xinh.
Mẹ hằng cậy nhắn tin cho
trẻ,
Khuyên trẻ đừng bê-trễ
công-trình;
Thương con Thầy phế Ngọc
Kinh,
Rước con khỏi chốn
hoả-khanh đem về.
Con khá chớ bỏ bê lúc
rảnh,
Lúc rảnh thường Tâm Tánh
lãng xao;
Tánh Tâm xao lãng phân
hào,
Tự nhiên con phải mỏn
hao tinh-thần.
Tu phải trọng Chơn-Thân
Chơn-Thể,
Thân-Thể nầy gốc rễ của
con;
Chơn-Thân, Chơn-Thể,
Chơn-Hồn
Giữ gìn trong sạch mới
còn gọi con.
Đừng vụng tưởng phấn son
là sạch,
Son phấn làm Chơn-phách
phải lu;
Mấy ai rọi kiến trăng
thu,
Mấy ai ngồi kiệu lấy dù
che thân.
Đừng vụng tưởng cơ bần
là nhục,
Cơ bần là chánh gốc mổi
con;
Lúc sanh đỏ lói một hòn,
Lúc về có kề vật chôn nhửng gì.
Con phải nhớ lúc đi Thầy
dặn,
Phải cho tròn bổn phận
Thầy sai;
Đừng lo phú quí chông
gai,
Phải cho xứng đáng
Tam-Tài mới xinh.
Chánh Tam-Tài mới vinh
mới quí,
Giả tiền-tài đồ mị phá
chơn;
Con sao chưa rõ thiệt
hơn,
Đã dư mấy kiếp đường
trơn bước hoài.
Rày Mẹ nhắc chỗ sai con
hiểu,
Hiểu được rồi Mẹ biểu
phải nghe;
Nghe rồi cẩn-thận trăm
bề,
Tránh đoàn kết đảng, lập
phe phỉnh phờ.
Con phận gái lỡ cơ sao
được,
Phải dặc-dè từ bước mới
ngoan;
Sao cho danh gái
rỡ-rang,
Chín mười cho đúng tuổi
vàng Mẹ trao.
Cuộc trần thế ảo bào
mộng ảnh,
Có chơn tu mới rảnh
phù-sanh;
Muốn cho chơn thật tu
hành,
Ráng lo gìn giử kỉnh
thành đừng quên.
Người ở thế đặt tên kể
tuổi,
Tên tuổi nầy một buổi
chẳng lâu;
Mấy tên phú quí
công-hầu,
Có đem chi được đế chầu
Ngọc-Kinh.
Người ở thế danh thinh
làm trước,
Thinh danh là cội phước
sự tu;
Công, dung, ngôn, hạnh,
làm đầu,
Lòng đừng mê-hoạc phải
trau sửa mình.
Đừng tập lối văn-minh
dối trá,
Văn-minh nầy quỉ phá mấy
hơi;
Con ôi Mẹ đã cạn lời,
Rán cho trong sạch tên
Người tuổi Ta.
Tên tuổi Ta bao la
vũ-trụ,
Tên tuổi Người che phủ
thế-gian;
Muốn cho tên tuổi miên
tràng,
Ta, Người, tên, tuổi,
vững-vàng chớ sai.
Người xuống thế ai ai
cũng một,
Phải rõ Người là ruột
với mình;
Với mình như một mới
xinh,
Với mình như ruột mới
rành tuổi tên.
Con phải nhớ chớ quên
lời Mẹ,
Được thân người chẳng dễ
đó con;
Tuổi tên được vậy mới
còn,
Tuổi tên được vậy mới
tròn thinh-danh.
Đừng tập nết trớ trinh
lêu lỏng,
Theo tánh phàm học giọng
cầu cao;
Chị em đừng tiếng mầy
tao,
Chị em tiếng nói ngọt
ngào mới ngoan.
Lời ăn nói diệu dàng mềm
mõng,
Mới làm cho trên trọng
dưới vì;
Học chi cái giọng
ngu-si,
Học chi cái giọng dị-kỳ
khó ưa.
Đừng học thói đỏng đưa
miệng lưởi,
Mà có khi vướng lưới quỉ
ma;
Khôn-ngoan sao bẵng
thiệt-thà,
Cứ lời Mẹ dạy mới là gái
ngoan.
Con đã chán các đàng tội
phước,
Mừng cho con nay được
gặp Thầy;
Ơn Thầy rưới khắp cỏ
cây,
Con tua tỉnh mộng kịp
ngày qui nguyên.
Phần xác thịt ba giềng
làm trọng,
Phần Thiêng Liêng phải
gióng cho cân;
Chớ hao Tinh, Khí, hại
Thần,
Tinh Thần quí báu phải
cần phải chuyên.
Thần, Khí, Tinh,
Tiên-Thiên làm gốc,
Tinh, Khí, Thần, là nọc
hại người;
Con ôi đừng tưởng trò
chơi,
Nếu con sai ngược Đạo
Trời dể đâu.
Đừng nghe kẻ mượn màu
Đại-Đạo,
Tiên, Hậu, Thiên, ngược
ngạo phỉnh đời;
Nếu con sai lạc tấc hơi,
Luân-hồi phải vướng chạy
Trời được sao.
Mẹ thấy trẻ khát khao
tìm Đạo,
Mà lại tin chuyện ảo
rằng chơn;
Con ôi chớ cậy giọng
đờn,
Giọng đờn là giọng hại
khờn hồn linh.
Con muốn rỏ công tình
tập luyện,
Tập luyện rành
cữu-chuyển phải thông;
Muốn cho cửu-chuyển được
ròng,
Gần Thầy mới rỏ
huyền-công thể nào.
Con phải biết Đạo cao
tối trọng,
Đừng để lòng hờ hõng sự
Tu;
Chớ tin nhửng lủ quáng
mù,
Mượn Thầy giả Đạo quyến
rù hư thân.
Nghe tiếng trẻ Mẹ mừng
cho trẻ,
Trẻ phải mau bước lẹ
đường ngay;
Muôn năm mới gặp hội
nầy,
Trể cơ hội ắc đọa-đày
vướng-mang.
Đã gặp Đạo gặp đàng
chánh-đáng,
Thì phải lo phải rán
công-trình;
Mẹ khuyên bỏ tánh
hớ-hinh,
Mẹ khuyên bỏ tánh chống
kình chị em.
Tánh kình chống rán kềm
cho dứt,
Nó làm cho Đạo-Đức phải
hư;
Con ôi Mẹ vốn Đại-Từ,
Thương con Mẹ nán giờ dư
chỉ bày.
Thấy trẻ dại đọa-đày
thân-thể,
Mãng tranh đua theo thế
nhán-hào;
Quên nhìn Đất rộng Trời
cao,
Đành vùi bụi đỏ để xao
Tánh Trời.
Thần, Tiên, Phật, rao
lời cạn tiếng,
Khuyên các con bỏ miếng
tu chơi;
Tu cho biết Phật, biết
Trời,
Tu cho biết Đạo, biết
đời, mới tu.
Trẻ mến Đạo, thầy mù khó
dắc,
Trẻ ham đời thì mắc tay
phàm;
Xanh, vàng, sợi chỉ ai
làm,
Con đường nam, bắc, bắc,
nam, ai làm.
Muốn tìm Đạo gặp Thầy
mới Sống,
Muốn tìm Thầy chớ vọng
phàm tâm;
Con ôi Đạo-Lý cao-thâm,
Lầm sai một mãy hại thầm
xiết bao.
Lòng thương xót đồng bào
chớ nệ,
Một rúng nhao của Mẹ mà
ra;
Đông tây nam bắc gần xa,
Dẩu cho khác giống cũng
là tình thâm.
Kẻ rù quyến gây mầm
xâu-xé,
Lập phái phe chia rẻ
thịt xương;
Lời ngon ngọt tợ như
đường,
Nếu con nhẹ dạ mắc lường
uỗn-oan.
Con phải đến Đạo-Tràng
Chơn-Lý,
Mới không còn có quỉ nơi
Tâm;
Đạo-Tràng Thầy lập phải
tầm,
Phải tầm cho gặp đặng
châm học hành.
Trời đã phú Tánh lành
sáng suốt,
Thì con là con ruột của
Trời;
Con trời đâu có cải lời,
Con Trời đâu có tiếng
đời nhạo khinh.
Khuya những tối tự mình
con xét,
Con xét con, con biết
lấy con;
Con ôi Tánh Đức cho
tròn,
Đừng ham nhửng thói bôn
chôn nhộn nhàn.
Chị em cũng một đoàn
thua sút,
Giờ rãnh-rang phải học
mới nên;
Học thì chí phải cho
bền,
Học bền mới có tuổi têm
với người.
Khi đi, đứng, khi cười,
khi nói,
Lúc nằm, ngồi, lúc hỏi,
lúc thưa;
Con ôi lể-nghiã chẳng
vừa,
Nếu con thưa thớt ai
chừa cho con.
Phận nhi nử phải tròn
danh-dự,
Nết đoan trang con giử lấy
con;
Tiếng thơm, tiếng nổi
như cồn,
Tiếng nhơ, cũng nặng như
hòn Thái-Sơn.
Muốn rỏ Đạo chớ sờn
công-quã,
Công quã bòn chớ khá từ
nan;
Muốn thông công quã
rỏ-ràng,
Công càng bền vững, quã
càn lớn-lao.
Công-đức được dày, cao,
chói-rạng,
Công-nghiệp càng rọi bản
Ngọc-Kinh;
Sao cho công vửng như
thành,
Sao cho quả được trổ
nhành, đơm hoa.
Phận nhi-nử ngọc-ngà
thân thể,
Công quả cho rành rẽ
đường sai;
Công cao, phước mới được
dài,
Công dày, đức mới vững
tày núi sông.
Muốn được quả phải trồng
nên quả,
Quả muốn trồng giống chạ
chớ ương;
Con ôi phận gái
đoạn-trường,
Đoạn trường càng phải
tìm đường cho nên.
Mẹ đã dạy công bền mới
được,
Công dày công được phước
mới bền,
Học hành công khó mới
nên,
Biến lười phải vướng vào
nền tớ-tôi.
Mẹ đã dạy vun-bồi
công-quả,
Con phải rành công cã
của con;
Con nào công nấy vuôn
tròn,
Công nào quả nấy chẵng
còn đợi chi.
Mẹ cũng biết nữ-nhi phận
gái,
Mẹ sẽ trao phần dạy có
người;
Con ôi công chớ biến
lười,
Con ôi Mẹ đã ráo lời
khúc-nôi.
Con phải biết luân-hồi
nên sợ,
Luân-hồi làm nên nợ
vô-minh;
Muốn cho công được viên
thành,
Thì con khá ránh
học-hành cho thông.
Kẻ dối-trá cuồn-ngôn
khả-ố,
Mà làm tuồn dạy dỗ tròn,
vuông;
Các con là gái quê môn,
Các con đâu rõ vuông,
tròn là chi.
Các con hãy kỹ suy chính
xét,
Thầy có đâu la lết
dạo-đường;
Thầy đâu làm mặt
trò-phường,
Thầy đâu tán-tận
thiên-lương khuấy đời !
Con đã gọi con Trời
thế-hạ,
Con phải mau hối-quá
tự-tân;
Con sao chẳng chịu
nhựt-tân,
Mà con lại muốn tránh
luân-xa-hồi ?
Bánh luân-xa lăn rồi
chẳng đợi,
Nếu vướng vào con mới
định sao ?
Con ôi thiên-võng nan
đào,
Đừng trông Bắc Đẩu Nam
Tào cứu nguy.
Muốn cứu nguy chẳng chi
lạ nữa,
Con khá lo tự sửa lấy
mình;
Sửa mình cho được bất
sinh,
Sửa mình cho được tiền
trình vẻ-vang.
Nói đến con trăm đàng
chua xót,
Mẹ xiết bao lệ giọt đượm
tuôn;
Thấy con sa hố lạc
truông,
Cũng vì con mảng làm
tuồn khéo-khôn.
Càng khôn-khéo càng dồn
cát bụi,
Khéo khôn chi với tuổi
hồng-trần;
Hồng trần khôn-khéo
nhố-nhăn,
Khéo-khôn theo buổi
hồng-trần ích chi ?
Kìa trước mắt con suy
cho kíp,
Cuộc bi, hoan, ly, hiệp,
mấy hồi;
Các con chẳng rõ cơ
Trời,
Nắng, mưa, lạnh, nóng,
mấy thời đó con.
Trời bình tĩnh thoạt còn
nổi gió,
Trăng làu làu lại trổ
mòi mưa;
Đừng ai khoe sớm, nói
trưa,
Năm còn thánh thiếu,
ngày thừa, phải sai.
Lời rỉ-rả canh dài Mẹ
dạy,
Tiếng nỉ-non phải quấy
Mẹ bày;
Con ôi gắng chí theo
Thầy !
Ngọc-Kinh mới được có
ngày đoàn viên.
Cơ hoạ-phước nhãn tiền
mấy lát,
Cũng đều do khổ lạc
chẳng tường;
Khổ kia ai tạo mà vương
?
Lạc nầy ai bỏ, ai duồng
lại chê !
Phải xét kỷ rõ bề khổ
lạc,
Khổ tại đâu mình chác
vào mình;
Tại mình nuôi cái
vô-minh,
Vô-minh nào phải Trời
sinh mà ngờ !
Kìa đuốc-tuệ ánh bờ
Chơn-Lý,
Thầy đã khai rọi chỉ
đường ngay,
Thuyền nghiên, sóng
ngược, phải quày,
Đừng khoe mạnh-bạo rủi
tay lái lèo.
Người trí-thức coi dèo
thời-thế,
Chó hỗng hờ lầm kế
tinh-ranh;
Con ôi phận gái
mỏng-manh,
Thương con Mẹ chỉ mối
manh con tường.
Đêm đã cạn Mẹ càng
than-thở,
Bỏ tánh phàm xem-chợ
nhắm em;
Đạo dường gió tạnh sóng
êm,
Con nào mến Đạo phải tìm
đường Chơn.
Biết sao kể nguồn cơn
sau trước,
Ham tự do con vượt ra
đi;
Tự do nó có ích gì,
Tự do càng lắm càng suy
tinh-thần.
Trẻ hối ngộ Mẹ mừng cho
trẻ,
Rán lo tu kẻo trễ thời
kỳ;
Gặp Thầy con rán qui-y,
Càng cho biết lễ, biết
nghi, mới rằng.
Mẹ dạy con chẳng ngừng
lời nói,
Con nghe lời đừng gọi
phui pha;
Đêm khuya nguyệt xế
trăng tà,
Con so bóng nguyệt còn
là bấy nhiêu ?
Duyên tứ-giả lắm đều dối
trá,
Cuộc tuần-hoàn vay trả,
chẳng thôi;
Lánh xa cái bánh
luân-hồi,
Khá mau tỉnh ngộ vun-bồi
Chơn-Linh.
Vững Chơn-Linh phải
thinh Tâm-Tánh,
Nhìn Ngọc-Kinh là cảnh
quê nhà;
Rảnh rang cái kiếp phù
hoa,
Lặng Tâm, êm Tánh, mới
là gọi con.
Mẹ vì con lưỡi mòn
đôi đoạn,
Mẹ vì con lời cạn mấy
phen;
Công dư kết bạn với sen,
Công dư đâu để làm quen
với bèo !
Chừa cái tánh tự-kiêu
tự-đắc,
Mới có ngày gần Phật gần
Trời;
Trời tuy lộng-lộng
vơi-vơi,
Nhưng Trời ở tại mấy lời
Mẹ đây.
Con nghe Mẹ, Mẹ
khuây-khỏa dạ,
Mẹ nhìn con, con hả hớn
lòng;
Con ôi mau kíp
trùng-phùng,
Đến đài Kim-Khuyết hiệp
cùng chị em.
Lời tâm-huyết Mẹ đem
tường-tận,
Khuyên con thơ yên phận
tu hành;
Muốn cho gọi được gái
lành,
Thì mau cải dữ, mới rành
chơn tu.
Đừng phân-biệt trí, ngu,
thêm hại,
Đố ai tường khôn, dại,
là chi ?
Trăm điều, đều tại
Hóa-Nhi,
Đừng đem phàm tánh mà
khi mà lầm.
Mẹ căn-dặn tu Tâm cho
lắm,
Tu Tâm rồi, Tánh bẩm mới
trong;
Tánh Tâm tuy cũng nơi
lòng,
Mẹ còn lo ngại con không
rõ đàng.
Lòng thương con
ngổn-ngan trăm mối,
Muốn cho con tránh khỏi
luân-hồi;
Nầy con Tâm, Tánh, bởi
Trời,
Nầy con Tâm, Tánh, bởi
người phá hư.
Phật thường gọi Chơn-Như
Tâm-Phật,
Trời đã cho Minh-Đức
Tánh-Trời;
Tánh Tâm trong sạch là
Người,
Tánh Tâm xảo trá là đời
đó con.
Đã gần trót đêm tròn Mẹ
giảng,
Giảng cho con mấy đoạn
éo le;
Phải nhìn Đất chở Trời
che,
Phải nhìn cho kỹ đặng
nghe đặng làm.
Đời gió bụi hiểm nham bớ
trẻ,
Có thiện căn mới dễ
tránh đời;
Tránh đời còn phải nghe
Trời,
Nghe Trời thì phải nghe
lời Mẹ khuyên.
Kẻ có phước thiện-duyên
mới gặp,
Gặp thiện-duyên ráng tập
mà làm;
Làm thì Nhứt-Đức,
Nhứt-Tâm,
Nhứt-Tâm Nhứt-Đức Mẹ
châm nom liền.
Thầy đã dạy Mười Khuyên
ráng nhớ,
Lại lắm khi nhắc nhở
trăm điều;
Khuyên con Tâm-Huệ ráng
khêu,
Ráng khêu cho tỏ đặng
theo mới mầu.
Bề cư-xử sồng-nâu
đạm-bạc,
Chớ kêu-đòi đài-các
trâm-anh;
Trâm-anh để gọi gái
lành,
Trâm-anh nào phải
sứa-sanh bề ngoài.
Mẹ dạy con chẳng nài lao
khổ,
Tánh phàm khuyên ráng bỏ
ráng chừa;
Ráng đem lại Tánh Trời
xưa,
Ngọc-Kinh sớm bước chờ
trưa trễ chầu.
Đuốc Chơn-Lý làu-làu
Thầy rọi,
Nơi Trung-Ương đặng gọi
các con;
Bòn vàng sông Lệ nên
bòn,
Tìm châu tìm ngọc non
Côn đến tìm.
Cây mát-mẻ có chim khôn
đậu,
Kẻ hiền lành noi dấu
Từ-Bi;
Từ-Bi Bác-Ái Thầy ghi,
Từ-Bi Bác-Ái Tam-Kỳ vẻ-vang.
Mẹ đã dựng nền vàng,
tảng ngọc,
Con biết lo săn-sóc đêm
ngày;
ân-cần mực-thước đừng
sai,
Thì con sẽ được dẫy-đầy
Ơn-Trên.
( Đàn tại Long-Xuyên
đêm 14 rạng 15
năm Quí Dậu - 1933
No comments:
Post a Comment